HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐỖ THỊ LÝ QUỲNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN N

Kích thước: px
Bắt đầu hiển thị từ trang:

Download "HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐỖ THỊ LÝ QUỲNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN N"

Bản ghi

1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐỖ THỊ LÝ QUỲNH CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƢỚC VÀ PHÁP LUẬT MÃ SỐ: HÀ NỘI

2 CÔNG TRÌNH ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRƢƠNG HỒ HẢI PGS.TS. NGUYỄN VĂN MẠNHHỒ ẢI S, TS NGUYỄN VĂN MẠNH Phản biện 1:.... Phản biện 2:.... Phản biện 3:.... Luận án đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi giờ ngày tháng năm Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc gia và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

3 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Đỗ Thị Lý Quỳnh (2017), Chống tội phạm mua bán người từ quá khứ đến hiện tại, Tạp chí Giáo dục và xã hội, (04), tr Đỗ Thị Lý Quỳnh (2017), Nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tham gia phòng, chống mua bán người trên địa bàn các tỉnh Tây Bắc hiện nay, Tạp chí Giáo dục và xã hội, (06), tr Đỗ Thị Lý Quỳnh (2017), Công tác phối hợp giữa lực lượng Công an nhân dân và Bộ đội Biên phòng trong phòng, chống tội phạm mua bán người xuyên quốc gia ở vùng Tây Bắc, Tạp chí Cảnh sát, (03), tr Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), Một số ý kiến về tội mua bán người quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân, (04), tr Đỗ Thị Lý Quỳnh (2020), Interational experience in building the legal mechanism for prevention and combat against human trafficking: Lessons for Việt Nam (Kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người: Bài học cho Việt Nam), Tạp chí Khoa học trường Đại học Mở Hà Nội, (65), tr

4 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Theo báo cáo của Cơ quan phòng, chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc, tội phạm mua bán người (MBN) đang trở thành nhóm tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia nguy hiểm nhất trên thế giới, với trên 17,5 triệu người là nạn nhân của tội phạm MBN, gần 21 triệu người đang bị cưỡng bức lao động và lợi nhuận từ hoạt động buôn bán người ước tính đạt tới 150 tỉ USD. Ít nhất 152 quốc gia là điểm xuất phát và 124 quốc gia là đích đến chịu tác động của nạn MBN, nạn nhân bị buôn bán qua biên giới mỗi năm, 33% nạn nhân là trẻ em, cứ 3 nạn nhân trẻ em thì có 2 nạn nhân là trẻ em gái, cùng với nạn nhân nữ họ chiếm đến 70% nạn nhân của các vụ MBN trên toàn thế giới. Hàng năm, có khoảng 244 triệu người di cư mỗi năm và rất nhiều người trong số đó trở thành nạn nhân của MBN. Các nước tiểu vùng sông Mê Kông (trong đó có Việt Nam) vẫn bị đánh giá là điểm nóng của tình trạng MBN, di cư trái phép với số nạn nhân lên đến gần 12 triệu người và lợi nhuận thu được ở khu vực này lên đến hàng chục tỉ USD mỗi năm. Đứng trước thách thức trên, cộng đồng quốc tế đã hình thành những cơ chế pháp lý (CCPL) ở các cấp độ từ song phương, đa phương và toàn cầu về phòng, chống MBN nhằm bảo vệ các giá trị cơ bản của nhân loại, bảo vệ quyền con người đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương. Trong đó nổi bật là Công ước Chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC) được Liên hợp quốc thông qua ngày 15/11/2000. Kèm theo đó là Nghị định thư về "Phòng ngừa, trấn áp, trừng trị tội phạm buôn bán người đặc biệt là phụ nữ và trẻ em" (Nghị định thư TIP) đã tạo tiền đề cho việc hình sự hóa và hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm buôn bán người. Từ năm 2013S, ngày 30/7 hàng năm được Liên hợp quốc chọn là Ngày Quốc tế phòng, chống buôn bán người nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng quốc tế về tội phạm buôn bán người. Tại khu vực Đông Nam Á cũng đã hình thành các cơ chế phòng, chống MBN như Tiến trình Bali chống di cư trái phép, buôn bán người và tội phạm xuyên quốc gia, Sáng kiến cấp Bộ trưởng các nước tiểu vùng sông Mê Kông (Commit) về chống MBN, Công ước Asean về phòng, chống MBN đặc biệt là phụ nữ và trẻ em (ACTIP)... Việt Nam - quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á - khu vực phát triển mạnh mẽ về du lịch, dịch vụ và lao động, với điều kiện vị trí địa lý thuận lợi và đường biên giới dài tiếp giáp các quốc gia có hệ

5 2 thống pháp luật khác biệt, có sự chênh lệch giới tính lớn, thiếu hụt lao động đặc biệt là lao động nặng nhọc, lao động trong các ngành dịch vụ giải trí nên Việt Nam được coi là quốc gia nguồn của tội phạm MBN. Tội phạm MBN tại Việt Nam mặc dù có chiều hướng giảm cả về số vụ lẫn số đối tượng và nạn nhân nhưng nhìn chung vẫn còn diễn ra rất phức tạp cả trong nội địa và xuyên biên giới với sự đa dạng về nạn nhân (nữ giới, nam giới, trẻ em và bào thai). Tính từ năm 2012 đến 6/2020 cả nước phát hiện vụ với đối tượng lừa bán nạn nhân, hơn 85% trong số này đã bị đưa ra nước ngoài trong đó đưa sang Trung Quốc chiếm hơn 70% và hơn 90% số nạn nhân là nữ giới, trong đó dưới 16 tuổi chiếm tới 16%. Số nạn nhân bị mua bán trong nước ước chiếm 1,13% nhưng chưa được thống kê và đánh giá toàn diện. Chưa kể đến khoảng phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu dài nghi bị mua bán, hơn phụ nữ xuất cảnh lấy chồng nước ngoài và hàng vạn lao động Việt Nam hoạt động thường xuyên cũng như thời vụ ở bên ngoài lãnh thổ dưới nhiều hình thức từ lao động chính thức đến lao động bất hợp pháp tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị bóc lột, bị mua bán chưa được xác minh, thống kê đầy đủ. Điều này, đã xâm phạm nghiêm trọng tới quyền con người, trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng tới uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đứng trước tình hình đó, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều giải pháp nhằm hạn chế và ngăn ngừa tội phạm MBN trong đó nổi bật là Luật Phòng, chống MBN 2011, Chương trình hành động quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn tầm nhìn đến 2030; Chương trình hành động quốc gia phòng, chống tội phạm MBN giai đoạn (Chương trình 130/CP); thành lập ban chỉ đạo phòng chống tội phạm của Chính phủ (Ban chỉ đạo 138). Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, sửa đổi bổ sung 2017 được ban hành với quy định tội MBN theo hướng tiếp cận gần hơn với khái niệm Nghị định thư TIP. Từ năm 2013, ngày 30/7 hàng năm được Việt Nam chọn là ngày "Toàn dân phòng, chống mua bán người". Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của Chính phủ cũng như của cộng đồng quốc tế, trên thực tế tội phạm MBN ở Việt Nam vẫn diễn biến hết sức nghiêm trọng và so với các loại tội phạm khác, tội phạm MBN có tỉ lệ tội phạm ẩn rất cao. Điều này cho thấy bên cạnh những lý do khách quan, còn nhiều bất cập, hạn chế như quy định pháp luật còn dàn trải, chưa bám sát thực tiễn từ quy định của BLHS, Luật Tố tụng hình sự (TTHS), Luật Phòng, chống MBN đến các văn bản pháp luật khác; hoạt động công vụ còn yếu, chồng chéo; nguồn nhân lực,

6 3 năng lực trong thực thi công vụ còn hạn chế; công tác phối kết hợp chưa đạt kết quả từ hoạt động phòng ngừa, đấu tranh, hợp tác quốc tế, giải cứu, xác minh, chuyển tuyến và tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân; nguồn lực đấu tranh chưa được quan tâm tương xứng; nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế. Do vậy, nhiệm vụ cấp bách đặt ra là nghiên cứu lý luận, phân tích toàn diện về thực trạng CCPL phòng, chống MBN, tìm ra nguyên nhân và đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. Về mặt lý luận, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống và trực tiếp liên quan đến CCPL phòng, chống MBN từ quy định pháp luật, tổ chức bộ máy, công tác phối kết hợp đến các yếu tố tác động ảnh hưởng. Hệ thống lý luận về CCPL phòng, chống MBN còn nhiều khoảng trống, chưa thống nhất trong nhận thức về chức năng, nhiệm vụ giữa các chủ thể trong phòng, chống MBN nên hiệu quả hoạt động này trên thực tế còn nhiều bất cập, hạn chế. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn đề tài "Cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam hiện nay" làm luận án tiến sĩ. Đây là đề tài có ý nghĩa thiết thực, cấp bách về cả lý luận và thực tiễn. 2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam thời gian qua, mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các quan điểm và giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong thời gian tới. Với mục đích trên, luận án đã đề ra các nhiệm vụ cần nghiên cứu sau: - Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về lĩnh vực phòng, chống MBN và CCPL phòng, chống MBN. - Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của CCPL phòng, chống MBN từ khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tố cấu thành, các điều kiện bảo đảm, tiêu chí hoàn thiện của các yếu tố cấu thành. - Tìm hiểu CCPL phòng, chống MBN của một số quốc gia trong khu vực và rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam. - Đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay, từ đó xác định rõ những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân. - Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

7 4 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. Quy định pháp luật hiện hành, tổ chức bộ máy, hoạt động công vụ và cơ chế phối kết hợp trong thực hiện các nội dung phòng, chống MBN. Từ đó chỉ ra những tồn tại hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong giai đoạn tới Phạm vi nghiên cứu của đề tài - Về nội dung: CCPL phòng, chống MBN là nội dung rộng, bao gồm các quy định của pháp luật, tổ chức hoạt động của các lực lượng chức năng, quy định pháp luật quốc tế liên quan đến hoạt động phòng, chống MBN. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu với chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, tác giả tập trung nghiên cứu luật hiện hành được quy định trong Luật Phòng, chống MBN, Điều 150 (Tội MBN) BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 và Chương trình quốc gia phòng, chống MBN giai đoạn Với chủ thể được đề cập có liên quan trực tiếp tới hoạt động phòng, chống MBN gồm Bộ Công an (BCA) với lực lượng Cảnh sát hình sự, Bộ Quốc phòng với lực lượng Bộ đội Biên phòng (BĐBP) và Bộ LĐTBXH. - Về thời gian: đề tài nghiên cứu từ năm 2012 đến 6/2020 (năm 2012 là năm bắt đầu thực thi Luật Phòng, chống MBN). - Về địa bàn: đề tài nghiên cứu trên phạm vi cả nước. 4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật, về thực hiện và bảo đảm quyền con người, về hội nhập quốc tế, về phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh trật tự, về đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lê nin (phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử) với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp lịch sử, hệ thống; phương pháp chuyên gia; tiếp cận đa ngành, liên ngành

8 5 các khoa học xã hội với khoa học pháp lý. Các phương pháp này được tác giả sử dụng đan xen, theo mục đích nhất định. Cụ thể: Chương 1: Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, các công trình khoa học đã công bố trong và ngoài nước trong thời gian gần đây, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để từ đó xác định những nội dung đã được nghiên cứu chuyên sâu, những nội dung có thể kế thừa và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Qua đó có thể cho thấy bức tranh tổng thể các công trình có liên quan đến đề tài luận án. Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ các vấn đề về mặt lý luận. Đồng thời tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp so sánh để phát hiện và nêu bật kinh nghiệm của một số quốc gia có liên quan ở khu vực trong việc tổ chức và thực thi phòng, chống MBN. Chương 3: Để đánh giá đúng thực trạng về phòng, chống MBN tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê; phương pháp nghiên cứu lịch sử, hệ thống; phương pháp chuyên gia với việc trao đổi, học hỏi từ những nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống MBN cũng như tham gia, học hỏi từ các cuộc hội thảo khoa học để tạo ra bức tranh toàn cảnh quá trình hình thành và phát triển CCPL phòng, chống MBN qua các giai đoạn, đồng thời đánh giá đúng thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam. Chương 4: Tác giả tập trung vào phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp dự báo khoa học. Trên cơ sở lý luận về CCPL phòng, chống MBN, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay, những thiếu sót, hạn chế trong việc xây dựng và vận hành cơ chế này để từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể. 5. Đóng góp mới của luận án Luận án góp phần làm rõ những vấn đề lý luận của CCPL phòng, chống MBN: khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành, điều kiện bảo đảm, tiêu chí hoàn thiện của cơ chế. Luận án đã đánh giá thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam từ quy định pháp luật và tổ chức bộ máy, thực thi công vụ ở các nội dung phòng, chống MBN, gồm: phòng ngừa; phát hiện, xử lý hành vi; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế và tổ chức bộ máy. Từ đó, tác giả đã chỉ rõ những hạn chế, thiếu sót làm cơ sở góp phần đưa ra các giải pháp cụ thể, thiết thực, khả thi trong việc hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN. Đây là

9 6 những giải pháp vừa có tầm vĩ mô của các nhà hoạch định chính sách vừa có tầm vi mô áp dụng trực tiếp vào hoạt động phòng, chống MBN của lực lượng chức năng. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án Về phương diện lý luận, kết quả của luận án đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho việc hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong bảo vệ quyền con người, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm; nâng cao nhận thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Về phương diện thực tiễn, luận án góp phần bổ sung những kiến thức hữu ích cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, giảng dạy cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng về thực trạng MBN và CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, làm cơ sở để các cơ quan chức năng hoạch định chính sách, hoàn thiện pháp luật, củng cố tổ chức bộ máy, bố trí nguồn lực và tăng cường các yếu tố bảo đảm nhằm đưa hoạt động phòng, chống MBN vận hành hiệu quả trên thực tế. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung luận án được kết cấu làm 4 chương và 12 tiết. Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nhóm các công trình liên quan đến phòng, chống mua bán ngƣời Có thể kể đến những công trình sau: Đề tài khoa học cấp nhà nước Nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia ở vùng Tây Bắc của GS, TS Trương Giang Long; Đề tài khoa học cấp Bộ Tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới Việt Nam - Thực trạng và giải pháp của tác giả Đặng Xuân Khang; Luận án Hoạt động của Chính phủ trong

10 7 phòng ngừa hoạt động mua bán người ở Việt Nam của tác giả Đặng Anh Tuấn; Luận án Phòng, chống mua bán người tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Mai Trâm; Luận án Điều tra tội phạm mua bán người qua biên giới Việt Nam - Campuchia theo chức năng của lực lượng cảnh sát hình sự của tác giả Phan Công Chuyển; Luận án Hoạt động phòng ngừa tội phạm mua bán người trên địa bàn các tỉnh, thành phố phía Bắc của lực lượng cảnh sát hình sự của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hạnh; Luận án Phòng ngừa tội phạm mua bán người tại các tỉnh, thành phố phía Nam của tác giả Nguyễn Công Tâm Nhóm các công trình liên quan đến cơ chế pháp lý Có thể kể đến các công trình sau: Sách Cơ chế pháp lý về giám sát của nhân dân thông qua mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội với các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay của TS Hoàng Minh Hội chủ biên; Sách Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam do GS, TS Nguyễn Minh Đoan chủ biên; Sách Hoàn thiện CCPL đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội của TS Trương Thị Hồng Hà; Luận án Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước đối với việc thực hiện quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Hoài An; Luận án Cơ chế pháp lý giám sát thực hiện các quy định của hiến pháp về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam của tác giả Chu Thị Thúy Hằng Nhóm các công trình liên quan đến cơ chế pháp lý về phòng, chống mua bán ngƣời Có thể kể đến các công trình như: Tài liệu Hướng dẫn chính sách về hình sự hóa buôn bán người do các thành viên tiến trình Bali thực hiện; Sách chuyên khảo Hỏi đáp về luật phòng, chống mua bán người của do GS.TS Nguyễn Ngọc Anh chủ biên; Sách chuyên khảo Giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài trong khuôn khổ Interpol của TS Đặng Xuân Khang; Bộ tài liệu Thúc đẩy bình đẳng giới trong phòng, chống mua bán người, hợp tác tư pháp quốc tế và ứng phó với tội phạm MBN trong khu vực Asean của chương trình hợp tác Châu Á, Ôxtralia phòng, chống buôn bán người; Luận án tiến sĩ Quan hệ phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với các lực lượng Công an nhân dân trong phòng ngừa tội phạm ở khu vực biên giới, đất liền" của tác giả Trần Hữu Phúc; Luận văn thạc sĩ Quan hệ phối hợp giữa Bộ đội Biên phòng với lực lượng Công an tỉnh Hà Giang trong phòng, chống tội phạm mua bán người ở khu vực biên giới của tác giả Đỗ Quang Trung.

11 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƢỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Nhóm các công trình liên quan đến phòng, chống mua bán ngƣời Có thể đến các công trình như: Sách chuyên khảo Human Trafficking: A Global Perspective (Buôn bán người Một nhận thức toàn cầu) của tác giả Louise Shelley; Sách chuyên khảo Human trafficking in the People's Republic of China (Buôn bán người ở Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) của tác giả Fan Jia Yang; Sách chuyên khảo của Harryl Cook J.K, Situation of Human Trafficking in Australia - Fighting Solutions, AFP. (Thực trạng buôn bán người ở Australia giải pháp phòng chống); Sách Human trafficking and Slavery in America today (Buôn bán người và nô lệ ở Mỹ ngày nay) của Ron Soodalter, Kevin Bales; Sách Human trafficking in Thailand: Curent issues, trends, and the role of the Thai Governmet (Buôn bán người ở Thái Lan: các vấn đề hiện tại, xu hướng và vai trò của Chính phủ Thái Lan) của Sirok Soajakool; Luận án tiến sĩ Priventing and combatting women trafficking from Viet Nam to China (Phòng ngừa và đấu tranh mua bán phụ nữ từ Việt Nam sang Trung Quốc) của tác giả Phạm Cao Nhiên Nhóm các công trình liên quan đến cơ chế pháp lý về phòng, chống mua bán ngƣời Có các công trình nổi bật như: Sách Tackling human trafficking in the Greater Mekong Sub-region (Giải quyết nạn buôn bán người ở Tiểu vùng sông Mekong) của Tổ chức Tầm nhìn Thế giới và Chống buôn bán người; Sách The international law of human trafficking (pháp luật quốc tế về buôn bán người) của tác giả Anne T. Gallagher; Luận án The United States Government Approach to Human Trafficking: A Question of Human Rights, Economics, and Legislation (Cách tiếp cận của Chính phủ Hoa Kỳ về buôn bán người: Một câu hỏi của Nhân quyền, Kinh tế và Pháp luật) của Weakley Melissa NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Nhận xét chung Những đề tài nghiên cứu trong nước về tội phạm MBN đã được nghiên cứu ở hầu hết các khu vực, tuyến biên giới trọng điểm trong cả nước, ở các lĩnh vực khác nhau như hoạt động phòng ngừa

12 9 xã hội, hoạt động phối kết hợp giữa các lực lượng, hoạt động công vụ của lực lượng chức năng, hoạt động hợp tác quốc tế. Từ việc nghiên cứu thực trạng, diễn biến tình hình tội phạm MBN các đề tài đã đề ra các biện pháp hữu hiệu trong phòng, chống tội phạm MBN. Tuy nhiên, các công trình này đa số thuộc mã ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, luật Hình sự nên không chuyên sâu vào CCPL phòng, chống MBN từ hệ thống pháp luật, hoạt động công vụ, hoạt động quản lý nhà nước, mối quan hệ phối hợp, hợp tác quốc tế hay tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng. Mặt khác, các công trình đã nghiên cứu chưa có kinh nghiệm của các quốc gia có liên quan tới Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống MBN, từ đó có sự đối chiếu so sánh nhất định về sự tương quan cũng như những khác biệt giữa Việt Nam và các nước trong phòng, chống MBN Những nội dung đƣợc luận án kế thừa và phát triển - Về mặt lý luận: Đề tài có thể tiếp thu, kế thừa các nội dung về nghiên cứu dưới góc đội Luật hình sự của tội MBN với 4 yếu tố khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan. Hệ thống các quy định quốc tế, văn bản pháp luật trong nước cùng những hiệp định mà Việt Nam đã ký kết và tham gia. Hoạt động công vụ cùng mối quan hệ phối hợp của các lực lượng cũng được kế thừa. Mặt khác, vấn đề hoàn thiện CCPL trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã và đang đặt ra yêu cầu bức thiết trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Các công trình này đã thể hiện đồng nhất trong một số vấn đề từ khái niệm, các yếu tố cấu thành vai trò hay các yếu tố bảo đảm. Đây là những vấn đề mang tính lý luận khung mà nghiên cứu sinh có thể tiếp thu và kế thừa. - Về mặt thực tiễn: Đề tài có thể kế thừa các số liệu đã được dẫn nguồn, kiểm chứng trong các công trình nghiên cứu trước đây để thấy bức tranh toàn cảnh và diễn biến tình hình tội phạm MBN trong những năm qua. Cũng như kế thừa các khía cạnh khác nhau trong việc phòng ngừa đấu tranh có hiệu quả với tội phạm MBN. - Về quan điểm, giải pháp phòng, chống mua bán người: Cơ bản đề tài có thể tiếp thu các quan điểm mang tính chiến lược, chủ đạo của Đảng trong xây dựng phát triển kinh tế và đấu tranh với tội phạm trong tình hình mới, các giải pháp phòng ngừa xã hội và một số giải pháp phòng ngừa nghiệp vụ Những vấn đề liên quan đến luận án nhƣng chƣa đƣợc giải quyết toàn diện

13 10 Thứ nhất, về khía cạnh cơ chế pháp lý Các công trình nghiên cứu với với mã ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật và nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện về CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. CCPL phòng, chống MBN có đặc trưng gì, có vai trò gì, có các yếu tố cấu thành khác biệt cơ bản nào so với các CCPL thuộc các lĩnh vực đã từng được nghiên cứu. Thứ hai, về khía cạnh phòng, chống mua bán người Các công trình đã từng nghiên cứu trước đây chủ yếu đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hình sự, diễn biến tình hình tội phạm thông qua các số liệu cụ thể để từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa khắc phục với biện pháp xã hội và biện pháp nghiệp vụ. Các công trình đã nghiên cứu thường trên địa bàn cụ thể, với tuyến biên giới nhất định, gắn với hoạt động công vụ của lực lượng nhất định nên tạo ra các bức tranh rời rạc, mang yếu tố vùng miền, dưới hoạt động nghiệp vụ của một lực lượng nhất định. Các yếu tố về quy định pháp luật, về mối quan hệ phối hợp tuy đã được nghiên cứu nhưng rời rạc không thống nhất và chủ yếu ở các bài báo, các cuộc hội thảo. Do vậy, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng thể các yếu tố cấu thành, đặc điểm vai trò của các yếu tố này sự tác động ảnh hưởng chi phối lẫn nhau trong vận hành CCPL phòng, chống MBN. Mặt khác, trong phạm vi nghiên cứu của một luận án chưa có kinh nghiệm của một số quốc gia có sự tương đồng, liên quan trong đấu tranh phòng, chống MBN từ quy định pháp luật đến tổ chức bộ máy nên chưa tạo ra bức tranh so sánh, đối chiếu phù hợp Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án Từ tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, tác giả xác định những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, những câu hỏi nghiên cứu mà luận án cần trả lời trên cả 3 phương diện về lý luận, thực tiễn và quan điểm giải pháp hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. Kết luận chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy trong lĩnh vực phòng, chống MBN đã có nhiều công trình nghiên cứu từ đặc điểm, diễn biến tình hình tội phạm, đến hoạt động công vụ của các lực lượng và mối quan hệ giữa các lực lượng trong phòng, chống MBN.

14 11 Mặc dù vậy, những nghiên cứu này chủ yếu ở khía cạnh tội phạm học và luật hình sự mà chưa đi sâu phân tích thể chế, thiết chế trong thực hiện các nội dung phòng, chống MBN. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đã thực hiện cũng đã tạo các giá trị tham khảo nhất định để tác giả kế thừa cũng như xác định những khoảng trống để tiếp tục đi sâu phân tích. Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM 2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ CỦA CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM Khái niệm cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời Qua việc phân tích định nghĩa, khái niệm MBN theo quan điểm của những nhà làm luật Việt Nam qua các giai đoạn, trên cơ sở phân tích định nghĩa buôn bán người theo Nghị định thư TIP, Điều 150 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017, Theo Nghị quyết số 02/2019/HĐTP ngày 11/1/2019 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng điều 150 về tội MBN và điều 151 về tội MBN dưới 16 tuổi của BLHS. Có thể hiểu MBN là hành vi chuyển giao, tiếp nhận người hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp để chuyển giao người hoặc tiếp nhận người để nhận hoặc giao tiền, tài tài sản hoặc lợi ích vật chất khác; để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác được thực hiện bởi việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc các thủ đoạn khác. Và phòng, chống MBN được hiểu là hoạt động phòng ngừa không để tội phạm MBN xảy ra và đấu tranh chống lại các hành vi MBN đã xảy ra trên thực tế. Từ việc phân tích các yếu tố cấu thành của CCPL cùng những nội dung cơ bản của CCPL phòng, chống MBN, luận án rút ra khái niệm: CCPL phòng, chống MBN là một chỉnh thể thống nhất gồm các yếu tố thể chế, thiết chế có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, được vận hành trong điều kiện bảo đảm nhất định nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung phòng, chống MBN Đặc điểm cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam

15 12 Thứ nhất, sự phát triển của cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người gắn với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự tiến bộ của xã hội trong nhận thức, thực hiện, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền của phụ nữ, trẻ em Thứ hai, cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người có tính pháp lý, gắn liền với Nhà nước, với trách nhiệm của Nhà nước và được bảo đảm thực hiện trên thực tế bởi quyền lực Nhà nước Thứ ba, cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người là tập hợp các yếu tố có mối quan hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phòng, chống mua bán người theo những nguyên tắc nhất định Thứ tư, mua bán người thuộc nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia nên cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người phải mang tính quốc tế tức phải đồng bộ, phù hợp với luật pháp quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và kí kết Vai trò của cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam Thứ nhất, CCPL phòng, chống MBN đã ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm và tôn trọng quyền con người, thực hiện phòng ngừa và đấu tranh chống lại mọi hành vi MBN Thứ hai, CCPL phòng, chống MBN tạo cơ sở pháp lý cho các lực lượng chức năng thực thi các hoạt động phòng, chống MBN Thứ ba, CCPL phòng, chống MBN là phương tiện góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện các chính sách xã hội Thứ tư, CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các vấn đề có tính khu vực và quốc tế 2.2. YẾU TỐ CẤU THÀNH VÀ TIÊU CHÍ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM Yếu tố cấu thành cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam Thể chế pháp lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam Thể chế phòng, chống MBN là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phòng, chống MBN. Thể chế phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay là kết quả của việc thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, về

16 13 tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, thể hiện tính tích cực, chủ động trong thực thi các điều ước quốc tế, trong hợp tác quốc tế. Thể chế phòng, chống MBN có xu thế luôn biến đổi, bổ sung phù hợp với thay đổi của đời sống xã hội, phù hợp với quy định quốc tế. Với 4 nội dung hoạt động cơ bản gồm: 1/ Phòng ngừa MBN: là trách nhiệm của các mọi cá nhân, tổ chức và của cả cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức pháp luật của cộng đồng về mua bán người; nhận thức về âm mưu thủ đoạn phạm tội; cách thức ứng xử và liên lạc với lực lượng chức năng khi có tình huống nghi MBN; nâng cao nhận thức của cơ quan chuyên trách trong thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm phòng ngừa không để tội phạm MBN xảy ra. 2/ Phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống MBN: là hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đó tập trung vào hoạt động của lực lượng có chức năng cưỡng chế, được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật như lực lương công an, lực lượng BĐBP trong thực hiện các hoạt động nghiệp vụ đặc thù nhằm phát hiện, xử lý các hành vi MBN đã được quy định trong BLHS / Tiếp nhận, xác minh và bảo vệ nạn nhân: là hoạt động của chính quyền địa phương, Bộ Quốc phòng (Bộ Tư lệnh BĐBP), BCA, Bộ LĐTBXH nhằm tiếp nhận nạn nhân từ nước bạn, xác minh phân loại và thực hiện quy trình bảo vệ nạn nhân theo quy định của pháp luật. 4/ Hợp tác quốc tế trong phòng, chống MBN: đây là hoạt động đặc thù đối với loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Hoạt động này được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước trong đó có BCA thực hiện hoạt động dẫn độ, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp hoạt động không những theo quy định của pháp luật trong nước mà còn tuân theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết trên nguyên tắc có đi có lại, phù hợp với tập quán quốc tế. Thể chế phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay gồm: + Về hình thức: văn bản quy phạm pháp luật trong nước, các chương trình hành động quốc gia về phòng, chống MBN và các văn kiện quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia và ký kết. Trong đó, quan trọng nhất là Hiến pháp đạo luật cơ bản là cơ sở trong việc triển khai và thực hiện các quy phạm pháp luật về phòng, chống MBN. Bên cạnh đó phải kể đến luật Phòng, chống MBN với các nội dung từ phòng ngừa, đấu tranh, hợp tác quốc tế và tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân. BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 với các yếu tố cấu thành tội MBN khá tương đồng với quy định của Nghị định thư TIP. Luật TTHS 2015 với cách thức, nội

17 14 dung phối kết hợp giữa các lực lượng chức năng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và hợp tác quốc tế trong phòng, chống MBN. Ngoài ra còn có luật Hôn nhân và gia đình, luật Lao động, luật Cư trú, luật Xuất nhập cảnh, luật Tương trợ tư pháp..., các văn bản dưới luật, các thông tư liên tịch, quy định, quy chế phối hợp giữa các lực lượng có liên quan đến nội dung phòng, chống MBN. Bên cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa, ngoài văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành còn phải kể đến các quy định quốc tế mang tính pháp lý và rằng buộc khi Việt Nam tham gia và ký kết như các Công ước quốc tế về bảo vệ quyền con người, Công ước TOC, Nghị định thư TIP (mặc dù pháp luật Việt Nam không áp dụng trực tiếp nhưng đây là cơ sở để Nhà nước tiến hành nội luật hóa), các hiệp định song phương và đa phương mà Việt Nam ký kết liên quan đến nội dung phòng, chống MBN. + Về nội dung: điều chỉnh các vấn đề sau: xác định vị trí, tổ chức, thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ phòng, chống MBN; xác định nội dung phòng, chống MBN; xác định tổ chức hoạt động, hình thức, biện pháp phòng, chống MBN; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các thiết chế phòng, chống MBN Thiết chế phòng, chống mua bán người ở Việt Nam Thiết chế phòng, chống MBN là hệ thống các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ được quy định trong pháp luật thực hiện các hoạt động phòng, chống MBN. Thiết chế này gồm: 1/ Thiết chế nhà nước: tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước được pháp luật quy định trong đó nổi lên là hoạt động của Chính phủ với các bộ ngành như BCA, Bộ Quốc phòng và Bộ LĐTBXH. 2/ Thiết chế xã hội: là các tổ chức chính trị - xã hội được pháp luật quy định gồm Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Công đoàn, Hội Nông dân. 3/ Thiết chế quốc tế - là các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ được hình thành và hoạt động có liên quan đến hoạt động phòng, chống MBN như Liên hiệp quốc, Asean, Tổ chức Di cư quốc tế, Tổ chức Lao động quốc tế, Tổ chức Tầm nhìn thế giới... Thiết chế phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay là cả hệ thống chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội trong đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống MBN. Chính phủ là đơn vị chủ trì chính sách phòng, chống MBN phù hợp với từng giai đoạn; huy động, phân bổ nguồn lực; thực hiện kiểm tra giám sát; thực hiện hoạt động quốc tế qua việc ký kết các điều ước quốc tế liên quan đến hoạt động phòng, chống MBN. Về

18 15 phía Chính phủ có Ban chỉ đạo quốc gia về phòng, chống tội phạm (Ban chỉ đạo 138) do Phó thủ tướng là trưởng ban chỉ đạo được tổ chức từ trung ương tới địa phương. Với chương trình mục tiêu phòng, chống tội phạm cụ thể. Dưới đó là các bộ, ban ngành và hệ thống cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương. Về phía các Bộ và cơ quan ngang bộ trong đó BCA với vai trò, chức năng của mình là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.. Do vậy, đây là được coi là lực lượng chuyên trách thực hiện phòng, chống MBN trong nội địa ở Việt Nam hiện nay. Bộ Quốc phòng trong đó chủ công là Bộ Tư lệnh BĐBP với việc tuần tra, kiểm soát đường biên giới, giữ vững an ninh trật tự khu vực biên giới, hải đảo, đấu tranh phòng, chống MBN khu vực biên giới, tiếp nhận nạn nhân được nước bạn trao trả; Bộ LĐTBXH với nhiệm vụ tiếp nhận, tư vấn, dạy nghề, tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân bị mua bán. Các lực lượng này không chỉ hoạt động chuyên biệt mà có mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với trình tự, nội dung, cách thức, hình thức được quy định trong văn bản pháp luật, trong quy chế phối hợp, nội dung hợp tác. Nhiệm vụ, chức năng cách thức thực hiện chuyên môn nghiệp vụ, cách thức phối kết hợp trong thực hiện các nội dung phòng, chống MBN đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, việc vận hành bộ máy lại phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực, đạo đức của mỗi cá nhân trong đó. Do đó, bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hiệu quả cùng cán bộ vận hành có trình độ, có năng lực và đạo đức nghề nghiệp là nền tảng trong việc thực thi có hiệu quả phòng, chống MBN Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành và tiêu chí hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán người ở Việt Nam Cơ chế pháp lý phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay gồm 2 yếu tố thể chế và thiết chế. Các yếu tố này không tồn tại biệt lập mà có sự tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau. Thể chế được quy định chặt chẽ trong quy định của pháp luật với nội dung, cách thức thực hiện cụ thể với chế tài chặt chẽ được coi như bộ khung, là cơ sở để vận hành. Thiết chế là cách thức tổ chức thực hiện nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật đi vào cuộc sống. Mỗi yếu tố trên, tuy có vị trí, vai trò, chức năng riêng biệt nhưng lại có mối quan hệ qua lại biện chứng tác động lẫn nhau.

19 Tiêu chí hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam Đối với thể chế đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp và khả thi Đối với thiết chế đảm bảo bộ máy vận hành tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với đặc điểm từng Bộ ngành, từng công việc, từng địa bàn. Bộ máy vận hành phải có nghĩa vụ, quyền hạn rõ ràng, tránh chồng chéo, đùn đẩy dẫn đến hiệu quả phối hợp không cao hoặc không bao quát hết công việc. Trình độ, năng lực, nhận thức của cán bộ công vụ cần được nâng cao để đáp ứng được yêu cầu. Bên cạnh đó, cần có chế tài cụ thể, rõ ràng, nghiêm minh đối với từng hành vi vi phạm trong thi hành công vụ CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM Các điều kiện bảo đảm chính là môi trường mà trong đó cơ chế được vận hành và phát huy tác dụng. Cùng một cơ chế nhưng vận hành trong các môi trường khác nhau sẽ tạo ra các kết quả khác nhau. Do vậy, các yếu tố bảo đảm tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình vận hành cơ chế nhưng có tác động không nhỏ, quyết định đến hiệu quả của việc tạo dựng và vận hành của cơ chế trên thực tế. Luận án xem xét dưới điều kiện về chính trị, điều kiện về pháp lý, điều kiện kinh tế, xã hội CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO VIỆT NAM Mua bán người là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia có mặt ở hầu hết các khu vực và các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi khu vực lại đối mặt với các hình thức MBN khác biệt. Do vậy, khi xem xét kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, tác giả chọn những quốc gia trong khu vực có nhiều nét tương đồng và có mối quan hệ nhất định tới tội phạm MBN ở Việt Nam là Trung Quốc, Philipin và Thái Lan. Từ đó, rút ra một số giá trị tham khảo sau: Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng, chống tội phạm mua bán người theo đúng tinh thần Nghị định thư TIP. Hai là, chủ động thực hiện phòng, chống tội phạm MBN ngay trong nội địa và tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế phòng, chống MBN.

20 17 Kết luận chương 2 Chương 2 của luận án nghiên cứu cơ sở lý luận CCPL phòng, chống MBN. Tác giả đã hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến nội dung luận án như khái niệm, đặc điểm, vai trò, các yếu tố cấu thành, điều kiện bảo đảm CCPL phòng, chống MBN. Đây là khung lý thuyết quan trọng, là cơ sở để tác giả tiến hành nghiên cứu thực trạng các yếu tố cấu thành trong CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam. Chƣơng 3 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM Tác giả đã xem xét, đánh giá quá trình hình thành, phát triển CCPL phòng, chống MBN qua 4 giai đoạn từ , , , 2016-nay. Từ đó cho thấy quá trình hoàn thiện pháp luật, tổ chức bộ máy và triển khai các nội dung phòng, chống MBN ở Việt Nam trong từng giai đoạn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và thực hiện có hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế THỰC TRẠNG CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Thực trạng thể chế phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam hiện nay Mặc dù MBN là loại tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia được quy định, nhận diện và thừa nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam là quốc gia không áp dụng luật trực tiếp, mà nội luật hóa các quy định quốc tế vào văn bản pháp luật trong nước. Do vậy, thực trạng thể chế phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay được nghiên cứu dựa trên các quy định pháp luật hiện hành trong phòng, chống MBN ở các nội dung phòng ngừa; phát hiện, xử lý hành vi MBN; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế và tổ chức bộ máy. Trong đó tập trung nghiên cứu luật Phòng, chống MBN; Điều 150 (tội MBN) BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và Chương trình hành động quốc gia phòng, chống MBN giai đoạn

21 Thực trạng thiết chế phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam hiện nay Cơ chế pháp lý phòng, chống MBN từ các quy định pháp luật muốn đi vào thực tế cuộc sống cần được vận hành bởi các lực lượng chức năng riêng biệt với nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức chặt chẽ. Do vậy, mặc dù, phòng, chống MBN nói riêng, phòng, chống tội phạm nói chung là trách nhiệm của mỗi các nhân, tổ chức, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả đề cập tới hoạt động của các lực lượng cơ bản có trách nhiệm chính trong thực hiện các nội dụng phòng, chống MBN gồm: phòng ngừa; phát hiện, xử lý hành vi MBN; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế và tổ chức bộ máy. Trong đó có hoạt động của Chính phủ và các bộ ngành như BCA (lực lượng Cảnh sát hình sự), Bộ Quốc phòng (lực lượng BĐBP) và Bộ LĐTBXH Nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót trong vận hành cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam hiện nay Nguyên nhân khách quan - Do vị trí địa lý của đất nước. - Do mặt trái của quá trình chuyển đổi nền kinh tế. - Do lợi nhuận thu được từ hoạt động MBN rất lớn lại khó có khả năng phát hiện và hậu quả nhẹ hơn rất nhiều so với các tội phạm khác Nguyên nhân chủ quan Sự lạc hậu, kém hiểu biết về pháp luật về âm mưu thủ đoạn của tội phạm cũng như tâm lý muốn thoát nghèo bằng mọi giá của nạn nhân cũng là điều kiện thuận lợi để bọn tội phạm thực hiện hành vi của mình. Tâm lý muốn làm giàu bằng mọi giá bất chấp các thủ đoạn, giá trị đạo đức của xã hội kiếm tiền trên phẩm giá của con người đã thúc đẩy hành vi phạm tội đến cùng. Tâm lý e dè, sợ bị trả thù, sợ bị mang tiếng và những định kiến xã hội đã khiến cho rất nhiều nạn nhân bị mua bán không dám tố cáo khiến cho công tác điều tra, xử lý gặp nhiều khó khăn, để tội phạm không bị trừng trị và khiến cho công tác giúp đỡ, quản lý không đạt như yêu cầu. Các quy định của pháp luật về phòng, chống MBN tuy đã được hoàn thiện nhưng vẫn còn những bất cập, hạn chế, chưa cụ thể, rõ ràng, đầy đủ nhất là quy định của pháp luật hình sự, quy định hỗ trợ nạn nhân và hợp tác quốc tế.

22 19 Sự quyết tâm của các Bộ ngành còn yếu, thiếu đồng bộ. Công tác kiếm tra giám sát, đôn đốc thực hiện, bố trí nguồn lực còn dàn trải chưa tập trung chưa đáp ứng yêu cầu, kinh phí và phương tiện phục vụ chưa được quan tâm đúng mức. Ban chỉ đạo 138 dường như chỉ hoạt động hiệu quả ở cấp trung ương mà về các địa bàn địa phương hoạt động mờ nhạt, chưa có tham mưu, định hướng rõ nét trong hoạt động dẫn đến hiệu quả không cao. Sự liên kết giữa các cơ quan chức năng còn lỏng lẻo, mang tính sự vụ, số liệu cũng như hoạt động công vụ còn rời rạc, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa có cơ chế phối hợp chưa rõ ràng, chậm thay đổi so với thực tiễn. Các cấp chính quyền chưa coi phòng, chống MBN là vấn đề xã hội, chưa gắn kết, lồng ghép và thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao dân trí và thực hiện chính sách toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, phòng, chống tội phạm đảm bảo an ninh trật tự. Năng lực và trách nhiệm của cán bộ thực thi công vụ còn chưa cao, chủ yếu là hoạt động kiêm nhiệm, được điều chuyển qua các nhiệm kỳ. Trình độ nghiệp vụ đặc biệt là pháp luật và ngoại ngữ còn hạn chế dẫn tới hiệu quả hoạt động không đạt như kỳ vọng. Nhận thức của cộng đồng đối với nạn nhân đã có chuyển biến nhưng chưa sâu rộng đặc biệt tại vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số. Công tác tái hòa nhập nạn nhân chưa huy động được nguồn lực và sự tham gia của toàn xã hội. Kết luận chương 3 Việc nghiên cứu thực trạng thể chế phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay tập trung chủ yếu ở quy định luật Phòng, chống MBN 2011; Điều 150 (tội MBN) BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Chương trình hành động quốc gia phòng, chống MBN giai đoạn và các Nghị định, thông tư kèm theo đã cho thấy toàn cảnh pháp luật về phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng thiết chế phòng, chống MBN tập trung phân tích hoạt động công vụ, phối hợp thực thi công vụ của BCA (lực lượng Cảnh sát hình sự), Bộ Quốc phòng (lực lượng BĐBP) và Bộ LĐTBXH trong thực hiện các hoạt động phòng, chống MBN đã chỉ rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ ngành, quan hệ phối hợp trong thực thi nhiệm vụ phòng, chống MBN. Với mỗi nội dung thể chế, thiết chế đều được tác giả nghiên cứu, đánh giá ở 5 nội dung cơ bản là phòng ngừa; phát hiện,

23 20 xử lý hành vi MBN; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế và tổ chức bộ máy phòng, chống MBN. Qua đó tác giả chỉ ra những thiếu sót, hạn chế của từng nội dung và nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này để làm cơ sở đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong thời gian tới. CHƢƠNG 4 DỰ BÁO TÌNH HÌNH MUA BÁN NGƢỜI VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4.1. DỰ BÁO TÌNH HÌNH MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI Cơ sở dự báo Dự báo cụ thể 4.2. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời ở Việt Nam phải đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời phải kết hợp chặt chẽ, thực hiện đồng bộ hài hòa trong chính sách phát triển kinh tế xã hội, nâng cao dân trí Hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời phải phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, huy động đƣợc sự tham gia của quần chúng nhân dân từ khâu tham vấn đến thực thi chính sách Hoàn thiện cơ chế pháp lý phòng, chống mua bán ngƣời phải đáp ứng yêu cầu mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam 4.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ PHÕNG, CHỐNG MUA BÁN NGƢỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Nâng cao hiệu quả phòng ngừa trong đó tập trung tăng cƣờng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về tội phạm mua bán ngƣời và thực hiện an sinh xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nƣớc Tăng cường hiệu quả hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về tội phạm mua bán người

24 21 Thực hiện các hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm nhận thức và tình hình MBN tại địa phương. Chú trọng tuyên truyền trong hệ thống giáo dục quốc dân. Lấy phụ nữ và trẻ em gái làm nòng cốt trên cơ sở chống kỳ thị, phân biệt đối với những nạn nhân bị mua bán Thực hiện chính sách an sinh xã hội, phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của lực lượng chức năng Thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch nhằm phát triển kinh tế, chú trọng tới vùng biên giới, hải đảo, vùng dân tộc khó khăn, thực hiện có hiệu quả công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí đảm bảo mọi nguồn lực được dành cho phát triển kinh tế, nâng cao dân trí và bảo đàm đời sống an sinh, xã hội. Chủ động thực hiện các biện pháp quản lý hành chính nhà nước, trong đó tập trung ở những tuyến, địa bàn trọng điểm, những ngành nghề, lĩnh vực có liên quan tới hoạt động MBN trong đó có xuất khẩu lao động và kết hôn có yếu tố nước ngoài Nâng cao hiệu quả phát hiện, xử lý hành vi mua bán ngƣời trong đó tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lƣợng chức năng Hoàn thiện pháp luật hình sự liên quan đến tội mua bán người Hoàn thiện pháp luật hình sự về phòng, chống MBN trong đó tập trung vào các cấu thành cốt lõi nhằm tương thích với quy định của Nghị định thư TIP và giải quyết những vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm MBN ở Việt Nam. Tập trung ở các yếu tố như độ tuổi, hành vi, mục đích Nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội phạm mua bán người Trong đó, tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng công an, lực lượng BĐBP và tăng cường mối quan hệ giữa hai lực lượng này nhằm đấu tranh có hiệu quả với tội phạm MBN trong nội địa và khu vực biên giới Nâng cao hiệu quả tiếp nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân trong đó trọng tâm là giảm sự kỳ thị của xã hội, huy động tối đa nguồn lực trong và ngoài nƣớc Hoàn thiện khung pháp lý Tập trung hoàn thiện Luật Phòng, chống MBN 2011 theo hướng cho phép sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phòng, chống MBN coi đây là một chủ thể trong việc

25 22 xác định nạn nhân và được trực tiếp thành lập các cơ sở hỗ trợ nạn nhân cần thiết. Bổ sung quy định về tịch thu tài sản do phạm tội mà có, lấy đó làm quỹ ủy thác hỗ trợ nạn nhân bị mua bán khi cần thiết. Bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm của các pháp nhân. Bảo đảm nạn nhân bị mua bán không bị xử lý hành chính do hậu quả của việc MBN gây ra. Ban hành thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, BCA, Bộ Quốc phòng trong hướng dẫn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi MBN, MBN dưới 16 tuổi Bên cạnh đó, hoàn thiện các quy định hỗ trợ nạn nhân theo hướng cắt giảm thủ tục, đảm bảo tôn trong quyền riêng tư của nạn nhân và phù hợp với thực tế Các hoạt động cụ thể Nâng cao năng lực của cán bộ thực hiện công tác tiếp nhận, hỗ trợ nạn nhân, nhằm hiểu rõ hơn việc mua bán ảnh hưởng thế nào đến nạn nhân, việc tôn trọng sự riêng tư, bí mật danh tính và nhân phẩm cần đặt lên hàng đầu và xuyên suốt quá trình tiếp xúc với nạn nhân. Xây dựng, triển khai các mô hình tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả phù hợp từng địa phương, từng đối tượng. Huy động sự tham gia của các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân trong nước trong thực hiện hỗ trợ nạn nhân. Bổ sung kinh phí và có chính sách hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp tiếp nhận nạn nhân nhằm giúp nạn nhân ổn định cuộc sống Nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế trong đó tập trung tăng cƣờng ký kết các thỏa thuận quốc tế về phòng, chống mua bán ngƣời và đào tạo nguồn nhân lực chất lƣợng cao Tập trung đẩy nhanh tiến độ đàm phán, tham gia và ký kết các điều ước quốc tế thỏa thuận song phương và đa phương liên quan đến hoạt động phòng, chống MBN, giải cứu và bảo vệ nạn nhân với các nước có đông nạn nhân, các nước là điển đến hoặc địa bàn trung chuyển của tội phạm. Đặc biệt triển khai đề án nghiên cứu gia nhập Nghị định thư về chống di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển, đường hàng không bổ sung cho Công ước TOC, là cơ sở để các cơ quan chức năng tiến hành các hoạt động nhằm ngăn ngừa hoạt động di cư trái phép hoạt động tiềm ẩn của tội phạm MBN. Khẩn trương xây dựng hoàn thiện tiêu chí xác định nạn nhân, quy trình chuẩn trong hồi

26 23 hương nạn nhân bị mua bán trở về giữa Việt Nam với các nước đặc biệt là với Trung Quốc. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao am hiểu pháp luật đặc biệt là pháp luật quốc tế, hoạt động tương trợ tư pháp quốc tế, tinh thông nghiệp vụ, sử dụng thành thạo ngoại ngữ nhằm thực hiện hoạt động hợp tác quốc tế phòng, chống MBN. Kết luận chương 4 Trên cơ sở dự báo tình hình MBN ở Việt Nam trong thời gian tới, xác định các quan điểm trong hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN, luận án đã đưa ra các giải pháp toàn diện ở các nội dung phòng, chống MBN nhằm góp phần hoàn thiện CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam trong thời gian tới. KẾT LUẬN Từ định nghĩa CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam là tổng thể các yếu tố thể chế, thiết chế có mối quan hệ tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, được vận hành trong điều kiện bảo đảm nhất định nhằm thực hiện nhiệm vụ phòng, chống MBN, tác giả đã phân tích, làm rõ đặc điểm, vai trò, các yếu tố cấu thành CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam hiện nay. Với việc phân tích cụ thể các yếu tố cấu thành CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam từ thể chế, thiết chế, tác giả đã cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố và tiêu chí nhằm hoàn thiện các yếu tố này. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả nghiên cứu đánh giá thực trạng vận hành CCPL phòng, chống MBN trên thực tế. Luận án cũng đã tổng quan quá trình hình thành và phát triển CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam qua các giai đoạn bắt đầu từ năm Luận án đã phân tích thực trạng CCPL phòng, chống MBN ở Việt Nam ở cả thể chế, thiết chế trên 5 nội dung cơ bản. Gồm: phòng ngừa; phát hiện, xử lý hành vi MBN; tiếp nhận, xác minh, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân; hợp tác quốc tế và bộ máy thực hiện phòng, chống MBN. Trong đó tập trung vào quy định của Luật Phòng, chống MBN 2011, BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, Chương trình hành động quốc gia phòng, chống MBN giai đoạn và hoạt động công vụ của 3 lực lượng cơ bản gồm BCA (lực lượng Cảnh sát hình sự), Bộ Quốc phòng (lực lượng BĐBP), Bộ LĐTBXH. Qua đó, xác định rõ những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót này.