ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Kích thước: px
Bắt đầu hiển thị từ trang:

Download "ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI"

Bản ghi

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ VĂN THÀNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ( ) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI -2015

2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ VĂN THÀNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP ( ) Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số: LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN THỨC HÀ NỘI

3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, công trình nghiên cứu là do bản thân thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Văn Thức. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn có xuất xứ rõ ràng, đảm bảo trung thực và tin cậy. Những đánh giá và kết luận trong luận văn chưa từng công bố ở bất kỳ công trình nào khác. Hà Nội, tháng 12 năm 2015 Tác giả luận văn Lê Văn Thành

4 CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN STT Ký hiệu, viết tắt Giải thích 1 CSĐD Cộng sản Đông Dương 2 CTQG Chính trị Quốc gia 3 DCCH Dân chủ Cộng hòa 4 Nxb Nhà xuất bản 5 QĐND Quân đội nhân dân

5 MỤC LỤC MỞ ĐẦU... 1 Chương 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG NHỮNG NĂM Khái quát về Tây Nguyên Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Dân cư, truyền thống yêu nước và cách mạng Bước đầu lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh du kích của Đảng ở Tây Nguyên từ năm 1945 đến Chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích ở Tây Nguyên Quân và dân Tây Nguyên tiến hành xây dựng lực lượng và phát động chiến tranh du kích Tiếp tục lãnh đạo chiến tranh du kích trong các năm Chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích trên toàn Tây Nguyên Quá trình hiện thực hóa chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích của quân và dân Tây Nguyên Tiểu kết chương Chương 2: TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC ( ) Lãnh đạo xây dựng lực lượng và đẩy mạnh chiến tranh du kích trong những năm Chỉ đạo tăng cường xây dựng lực lượng và đẩy mạnh chiến tranh du kích, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới Quân và dân Tây Nguyên đẩy mạnh chiến tranh du kích, góp phần hạn chế chính sách dùng người Việt đánh người Việt Tăng cường lãnh đạo chiến tranh du kích, góp phần giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Tây Nguyên

6 Chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy ở Tây Nguyên Quân và dân Tây Nguyên hiện thực hóa chủ trương của Đảng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp chặt chẽ với chiến tranh chính quy. 65 Tiểu kết chương Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Một số nhận xét Ưu điểm Hạn chế Bài học kinh nghiệm Nắm bắt đặc điểm tình hình địa bàn, kịp thời có những chủ trương, biện pháp phù hợp với Tây Nguyên Luôn chăm lo, xây dựng và củng cố tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số để lãnh đạo chiến tranh du kích Xây dựng lực lượng, căn cứ, làng bản chiến đấu và động viên toàn dân tham gia chiến tranh du kích Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giành ưu thế tiến công chiến lược Tiểu kết chương KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

7 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chiến tranh du kích là chiến tranh được tiến hành theo phương thức đánh du kích, với lực lượng nhỏ lẻ, nòng cốt là lực lượng vũ trang địa phương nhằm chống lại các đối phương có ưu thế hơn về sức mạnh quân sự [32, tr. 224]. Hiểu một cách đơn giản, thì đây là hình thức tác chiến của quần chúng nhân dân, của quân đội và nhân dân một nước yếu, trang bị kém cỏi, đứng lên chống lại một quân đội xâm lược có trang bị kỹ thuật mạnh hơn. Đó là một lối đánh của chiến tranh cách mạng dựa vào tinh thần anh dũng mà chiến thắng vũ khí hiện đại, dựa vào nhân dân, dựa vào làng bản mà chiến đấu, chỗ mạnh địch thì tránh, chỗ yếu địch thì đánh, khi phân tán, khi tập trung, khi đánh tiêu hao, khi đánh tiêu diệt, chủ trương đánh địch khắp mọi nơi, khiến chúng đi đến đâu cũng bị chìm ngập trong một bể người vũ trang chống lại [66, tr. 42]. Đây là một trong những phương thức tiến hành chiến tranh phù hợp với đặc điểm nước ta. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ), dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đẩy mạnh tiến hành chiến tranh du kích ở các chiến trường trong cả nước, thu được nhiều kết quả, có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp kháng chiến. Trong đó, chiến trường Tây Nguyên là một điển hình, phong trào chiến tranh du kích đã được xây dựng và phát triển rộng rãi, tạo dựng được một thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, góp phần tích cực vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tây Nguyên, địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng không những ở Việt Nam mà còn cả Đông Dương, nắm giữ Tây Nguyên có thể khống chế hầu như toàn bộ các khu vực xung quanh. Do vậy, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ), Tây Nguyên là nơi diễn ra tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã anh dũng đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Tuy trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội còn thấp nhưng nhân dân các 1

8 dân tộc Tây Nguyên luôn tin theo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; kiên cường, anh dũng đứng lên sát cánh, phối hợp chặt chẽ với các hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực, đẩy mạnh chiến tranh du kích với lối đánh mưu trí, linh hoạt, sáng tạo, tiến hành đánh địch liên tục, mọi lúc, mọi nơi, bằng mọi lực lượng với mọi vũ khí có trong tay đã góp phần kìm giữ, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch khiến cho thực dân Pháp luôn phải bị động tìm cách đối phó, thế bố trí chiến lược của chúng bị đảo lộn. Chiến tranh du kích đã góp phần quan trọng từng bước đánh bại mưu đồ giành đất, giành dân và âm mưu thâm độc dùng người bản xứ đánh lại người bản xứ của thực dân Pháp. Chiến tranh du kích là một trong những hoạt động trọng tâm và xuyên suốt của đảng bộ, quân và dân đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, diễn ra ngay từ ngày đầu cho đến khi kháng chiến kết thúc thắng lợi. Cuộc chiến đấu đó vừa mang những nét chung của các địa phương, các vùng miền trong cả nước lại mang những đặc trưng riêng. Trong cuộc đấu tranh đó, quân và dân Tây Nguyên đã giành được những thắng lợi to lớn, nhưng cũng có những hạn chế, vấp váp, phải chịu không ít tổn thất, mất mát và hy sinh. Nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với chiến tranh du kích ở chiến trường Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( ) nhằm góp phần dựng lại cuộc đấu tranh anh dũng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, góp phần lý giải rõ hơn một trong những nhân tố tạo nên thắng lợi của cuộc kháng chiến, làm phong phú thêm những kinh nghiệm về chỉ đạo chiến tranh du kích của cả nước, đồng thời làm cơ sở cho việc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân địa phương ở Tây Nguyên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Với những lý do trên, Học viên quyết định chọn Đảng lãnh đạo chiến tranh du kích ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( ) làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2

9 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chiến tranh du kích ở Việt Nam nói chung, ở Tây Nguyên nói riêng là một chủ đề lớn. Từ nhiều năm qua đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tập thể và các nhà khoa học trong nước cũng như quốc tế. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài chiến tranh du kích, các công trình tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể chia thành các nhóm như sau: 2.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến kháng chiến chống Pháp ở Tây Nguyên Võ Nguyên Giáp (1959): Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb Sự thật, Hà Nội; Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1986), Khu 5-30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 1- Kháng chiến chống thực dân Pháp; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk (1991), Đắk Lắk 30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 1, Kháng chiến chống thực dân Pháp; Viện Lịch sử Đảng - Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (1992), Nam Trung Bộ kháng chiến , Hà Nội; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum (1993), Kon Tum 30 năm chiến đấu kiên cường bất khuất ( ); Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai (1993), Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng; Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 1, 2, Nxb QĐND, Hà Nội; Bộ Tổng Tham mưu (1998), Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp ( ), Chuyên đề: Đặc trưng của chiến tranh du kích ở chiến trường Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp, Nxb QĐND, Hà Nội; Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk (1998), Tổng kết chiến tranh du kích trên chiến trường Đắk Lắk , Đắk Lắk; Bộ Tư lệnh Quân khu 5 - Tỉnh ủy Lâm Đồng (2004), Vai trò đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong kháng chiến giải phóng dân tộc ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. Các công trình này đã trình bày bối cảnh, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên cả nước nói chung và trên 3

10 từng tỉnh của Tây Nguyên nói riêng. Những nội dung về chiến tranh du kích ở Tây Nguyên, tùy theo từng công trình, trình bày ở mức khái quát hoặc cụ thể ở từng tỉnh Các công trình đề cập đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Đảng bộ các cấp đối với phong trào chiến tranh du kích ở Tây Nguyên Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1982): Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, Tập 1 ( ) (Sơ thảo); Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Lâm Đồng (1984), Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng; Bộ Tổng tham mưu (1998), Chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ( ) - Những bài nói và bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương, Nxb QĐND, Hà Nội; Võ Nguyên Giáp, Chỉ đạo chiến tranh du kích, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk ( ), Nxb CTQG, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (2006), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Nông ( ), Nxb Đắk Nông; Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum (2006), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum, Tập 1 ( ), Nxb Đà Nẵng; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai ( ), Nxb CTQG, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (2008), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng ( ), Nxb CTQG, Hà Nội; Bên cạnh đó, còn có các công trình Lịch sử Đảng bộ các huyện, thị xã như: Ban Thường vụ Thành ủy Đà Lạt (1994), Lịch sử thành phố Đà Lạt ( ), Thành ủy Đà Lạt ấn hành; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Mang Yang (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Mang Yang ( ), Nxb CTQG, Hà Nội; Lịch sử Đảng bộ Thị xã An Khê ( ), Nxb CTQG, 2010; Các tài liệu này chủ yếu đề cập đến quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ các cấp trong quá chỉ đạo chiến tranh du kích của cả nước, cũng như ở tỉnh, huyện cụ thể trên chiến trường Tây Nguyên. 4

11 Liên quan tới chủ đề chiến tranh du kích nói chung, chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên nói riêng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều năm qua đã có một số bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Vũ Quang Hiển (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng dân quân du kích và chiến tranh du kích, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 3; Nguyễn Văn Diệu (2004), Âm mưu của thực dân Pháp về vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên ( ), Tạp chí Xưa và Nay, số 224; Trần Văn Thức (2005), Âm mưu của thực dân Pháp đối với vùng Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai ( ), Tạp chí Lịch sử quân sự, số 7 Các tác giả đã đề cập một số vấn đề đến chiến tranh du kích, đồng thời tập trung làm rõ những âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp, cũng như trình bày khái quát hoàn cảnh, diễn biến cuộc đấu tranh của nhân dân đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhìn chung, chiến tranh du kích ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được đề cập khá nhiều trong một số công trình viết về Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nhưng mới chỉ ở dạng khái quát, chung chung. Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với chiến tranh du kích chống lại thực dân Pháp của quân và dân các tỉnh Tây Nguyên; đề cập đến những ưu điểm, hạn chế và bài học rút ra trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với chiến tranh du kích. Mặc dù vậy, các công trình nói trên là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để tác giả luận văn tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu Hướng nghiên cứu và giải quyết của luận văn - Trình bày có hệ thống, toàn diện về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng (Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5, các Đảng bộ địa phương) về chiến tranh du kích nói chung, chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên nói riêng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ). 5

12 - Tập trung làm rõ quá trình quân và dân Tây Nguyên thực hiện chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích trên địa bàn rừng núi, nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít người. - Trên cơ sở kết quả phong trào chiến tranh du kích, đánh giá những thành công, hạn chế trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Đảng trên chiến trường Tây Nguyên. - Rút ra một số bài học kinh nghiệm. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Làm rõ sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5 và các cấp uỷ Đảng ở Tây Nguyên, cũng như quá trình hiện thực hóa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ) Nhiệm vụ nghiên cứu - Bám sát tiến trình lịch sử, làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 và các cấp uỷ địa phương trên địa bàn Tây Nguyên. - Trình bày quá trình quân và dân Tây Nguyên tiến hành chiến tranh du kích theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong suốt cuộc kháng chiến. - Phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Đảng trên chiến trường Tây Nguyên. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của luận văn là sự lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ). 6

13 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về đường lối, chủ trương của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 và cấp uỷ các địa phương và chiến tranh du kích ở Tây Nguyên từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 7 năm Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 và các Đảng bộ địa phương các tỉnh Tây Nguyên, bao gồm các tỉnh theo địa giới hành chính lúc đó là: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng. 5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5.1. Nguồn tư liệu - Các văn kiện của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Liên khu uỷ 5 và của các cấp uỷ địa phương từ năm 1945 đến năm Lịch sử các đảng bộ, lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của các địa phương, tài liệu tổng kết chiến tranh du kích của các tỉnh Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. - Các công trình khoa học, bài báo, tạp chí, luận án, luận văn có liên quan đến đề tài. - Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng và Quân khu Phương pháp Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu kết hợp với phương pháp logic. Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh nhằm làm nổi bật quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5 và các cấp uỷ địa phương trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích, cũng như phong trào đấu tranh của quân và dân các tỉnh Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ). 7

14 6. Đóng góp của luận văn - Dựng lại một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu uỷ 5 và các cấp uỷ Đảng địa phương; đồng thời trình bày quá trình quân và dân Tây Nguyên tiến hành chiến tranh du kích, trong kháng chiến chống Pháp ( ). - Góp phần làm sáng tỏ hơn về chiến tranh du kích nói riêng, chiến tranh nhân dân nói chung trên địa bàn Tây Nguyên. Qua đó làm rõ thêm về tinh thần đoàn kết, chiến đấu anh dũng hi sinh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. - Rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm của Đảng trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương: - Chương 1: Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh du kích ở Tây Nguyên trong những năm Chương 2: Tăng cường lãnh đạo phong trào chiến tranh du kích, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ) - Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm 8

15 Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VÀ TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH DU KÍCH Ở TÂY NGUYÊN TRONG NHỮNG NĂM Khái quát về Tây Nguyên Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tây Nguyên là vùng rừng núi trùng điệp, hiện nay gồm có 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông 1, Lâm Đồng nối tiếp nhau chạy dài theo hướng Bắc Nam. Phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam; phía Nam nối liền với các tỉnh Đông Nam Bộ (tỉnh Bình Phước và Đồng Nai); phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận; phía Tây giáp với Lào và Đông Bắc Campuchia, với đường biên giới chung là 732 km (Nam Lào 288km, Đông Bắc Campuchia 444km) [34, tr. 7]. Tây Nguyên 2 là vùng rừng núi, với nhiều núi cao, rừng rậm, có nhiều ngọn cao từ đến trên 2.000m. Do địa thế hiểm trở, Tây Nguyên có một thế đứng vô cùng lợi hại có thể khống chế hầu như toàn bộ khu vực xung quanh, giữ vị trí chiến lược quan trọng không những đối với miền Nam nước ta, mà cả với phần Nam Đông Dương. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, rừng ở Tây Nguyên còn bạt ngàn, che phủ trên 80% diện tích tự nhiên. Trong 5 cao nguyên Kon Tum, Pleiku, Đắk Lắk, Lang Biang, Di Linh có độ cao trung bình từ m, trong đó nổi lên một số dãy núi cao có giá trị khống chế các khu vực xung 1 Đắk Nông được tách từ Đắk Lắk ra thành lập theo quyết định 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2 Ở đây có nhiều tài liệu dẫn khác nhau, theo Bộ Tư lệnh quân khu 5, Khu 5-30 năm chiến tranh giải phóng, xuất bản năm 1986, trang 16: Tây Nguyên rộng km2, còn theo Từ điển Bách khoa quân sự, do Trung tâm từ điển bách khoa quân sự - Bộ Quốc phòng thì Tây Nguyên có diện tích rộng khoảng ,9km2, hay theo Ban chỉ đạo Tây Nguyên, Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững ở trang 19 có diện tích rộng khoảng km2. Còn theo Bộ Tổng tham mưu, Chuyên đề Chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb QĐND, trang 7, thì Tây Nguyên có diện tích rộng khoảng km. 9

16 quanh. Hai cao nguyên Pleiku và Đắk Lắk nối liền nhau, hợp thành một vùng đất rộng ở trung độ Tây Nguyên, vùng đất này lại nối liền với Đông Bắc Campuchia tạo thành một chiến trường có dung lượng lớn ở phía bắc Đông Dương. Nằm vào khoảng giữa nam bán đảo Đông Dương, nơi có chung biên giới với Lào và Campuchia, Tây Nguyên có mạng lưới giao thông phong phú, đa dạng, có thể ra Bắc, vào Nam, xuống đồng bằng ven biển, sang Lào và Campuchia. Quốc lộ số 14 chạy từ Đà Nẵng lên phía Tây, xuyên suốt chiều dài Tây Nguyên vào đến Đông Nam Bộ. Đường số 5 (nay là đường số 24) từ Thạch Trụ (Mộ Đức - Quảng Ngãi lên giáp với Đường 14 ở Đắk Tô (Kon Tum). Đường 19 từ cảng Quy Nhơn lên giáp Đường 14 ở thị xã Pleiku rồi chạy thẳng sang Đông Bắc Campuchia giáp với Đường số 13 ở phía Nam Thị xã Stung treng. Đường số 7 (nay là đường số 25) từ thị xã Tuy Hoà đi Cheo Reo và giáp với Đường 14 ở ngã ba Mỹ Thạch. Đường số 21 nay là Đường số 26 từ Ninh Hoà (Khánh Hoà) lên đến thành phố Buôn Ma Thuột. Đường số 11 (nay là Đường số 20) từ thị xã Phan Rang lên Đà Lạt. Đường số 8 (nay là Đường số 28) ở phía Nam Thị xã Phan Thiết lên giáp với Đường số 20 ở Di Linh rồi chạy thẳng lên gặp Đường số 14 ở ngã ba Đắk Song. Đường 20 từ ngã ba Dầu Giây (Đồng Nai) lên Đà Lạt. Đường số 18 từ Đắk Tô (Kon Tum) đi Nam Lào. Tất cả các con đường này đều chạy qua các vùng núi cao, rừng rậm, lắm đèo, nhiều dốc quanh co, có đèo với chiều dài lên đến 20km. Hệ thống sông ngòi ở Tây Nguyên dọc ngang chằng chịt, lắm ghềnh nhiều thác; là nơi khởi nguồn của 4 hệ thống sông chính gồm: hệ thống sông Pô Kô - Sê San ở Kon Tum đổ vào sông Mê Kông; hệ thống sông Ba - Ayun ở Gia Lai đổ vào sông Đà Rằng chảy ra biển Đông; hệ thống sông Sêrêpôk ở Đắk Lắk đổ vào sông Mê Kông và hệ thống sông Đồng Nai ở Đắk Nông và Lâm Đồng chảy ra biển Đông. Vào mùa mưa, nước dâng cao và chảy xiết. Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, lại có độ cao trung bình từ 400m đến hơn 2.000m so với mực nước biển, có núi, cao nguyên và vùng trũng, khí 10

17 hậu Tây Nguyên vừa có những điểm chung, vừa có những điểm riêng, đan xen, phức tạp, gồm nhiều tiểu vùng, nhưng phổ biến là khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch, thường gây ra lũ lớn, làm cho việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Mùa khô, phần lớn các con sông nhỏ và suối đều khô, cạn, nhất là ở Nam Tây Nguyên. Tây Nguyên là vùng đất đỏ ba dan lớn nhất nước ta. Các loại cây cao su, cà phê, chè đều rất thích hợp. Do điều kiện địa hình đa dạng tạo cho Tây Nguyên không chỉ có thể trồng chủ yếu các loại cây công nghiệp mà còn có điều kiện phát triển nông nghiệp tương đối toàn diện. Những vùng đất phù sa màu mỡ chạy dọc theo các con sông lớn ở Gia Lai, Đắk Lắk có thể làm nông nghiệp trồng lúa 2 đến 3 vụ trong một năm. Tuy nhiên, nền kinh tế Tây Nguyên cho đến trước cách mạng tháng Tám 1945, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chủ yếu sống theo lối du canh, du cư, quanh năm thiếu đói. Người Kinh chủ yếu làm trong các đồn điền của chủ tư bản Pháp, bị bóc lột nặng nề, cuộc sống thiếu đói, kham khổ, làm cho bức tranh kinh tế Tây Nguyên nghèo nàn, lạc hậu. Đơn vị cơ sở xã hội ở Tây Nguyên là buôn làng với những đại gia đình theo chế độ mẫu hệ. Các gia đình trong một buôn đều có quan hệ thân tộc hoặc thích tộc ở những mức độ khác nhau, mối quan hệ đó là cơ sở để hình thành một cộng đồng của buôn, làng được duy trì khá bền vững. Xuất phát từ vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, trong điều kiện phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt nên đã hình thành trong mỗi cộng đồng các dân tộc những tập quán tốt trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và tinh thần thượng võ là đặc điểm nổi bật của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Bên cạnh đó, Tây Nguyên vẫn còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan, cúng cử, một số tập tục trong ma chay, cưới hỏi, tục giết ma lai.v.v. Các yếu tố mê tín đã ảnh hưởng 11

18 và tác động nhiều đến cuộc sống sinh hoạt, đời sống sản xuất của đồng bào. Những yếu tố này là tâm điểm để kẻ thù xâm lược lợi dụng, kìm hãm nhân dân các dân tộc trong vòng tăm tối, thực hiện chia rẽ dân tộc, thôn tính lâu dài và làm giảm bớt tinh thần đấu tranh của nhân dân Dân cư, truyền thống yêu nước và cách mạng Tây Nguyên là nơi sinh sống của gần 30 dân tộc anh em, nhưng mật độ dân số còn rất thấp. Đến năm 1936, số lượng của một số dân tộc đông người nhất ở đây như sau: dân tộc Gia Rai có người, Bana có người, Sê Đăng có người, Ê Đê có người, Mạ có người, M nông có và Kơ Ho là người [97, tr. 255]. Dân cư thưa thớt, tuyệt đại bộ phận đồng bào các dân tộc ít người thường sinh sống ở vùng núi cao hoặc các vùng đất bằng ở xa các đô thị. Tuy không hình thành những vùng lãnh thổ tộc người riêng, nhưng mỗi bộ tộc đều quần tụ trong một khu vực nhất định. Các bộ tộc có số lượng đông thường theo nhóm người địa phương. Vào khoảng thế kỷ XVII, khi quân Nguyễn đánh vào Nghệ An, chiếm 7 huyện Nam sông Cả, bắt cư dân người kinh đưa vào sống ở vùng Tây Sơn; tiếp theo là một số dân lao khổ ở đồng bằng lên sinh cơ lập nghiệp, đến giữa thế kỷ XVIII đã có một số thôn ấp người Kinh ở vùng Tây Sơn thượng đạo. Đến thế kỷ XIX, một số cư dân ở các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định và một số theo đạo Thiên chúa giáo, để lánh sự truy nã của triều đình Huế đã đến sinh sống ở Kon Tum, Gia Lai Ở Lâm Đồng, trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ nhất, chỉ có đồng bào dân tộc ít người. Khi xâm lược nước ta, đặt chân đến Lâm Đồng và phát hiện cao Nguyên Lang Biang và Di Linh (1893), đặc biệt sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp mới ra sức bắt ép người Kinh từ miền Bắc, miền Trung đưa lên xây dựng Đà Lạt, Di Linh và khai thác vùng Lâm Đồng. Trong khi đó, ở Đắk Lắk, do chính sách ngăn cấm của thực dân 12

19 Pháp nên đến năm 1929 mới có người Kinh lên sinh sống. Do đó, tính đến năm 1936, toàn Tây Nguyên mới chỉ có người Kinh sinh sống [97, tr. 255] và cho đến trước ngày cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, phần lớn người Kinh là công nhân ở các đồn điền, còn lại phần ít tham gia sản xuất nông nghiệp, số còn lại buôn bán nhỏ, làm nghề thủ công ở các thị xã, thị trấn. Bên cạnh người Kinh, người Hoa đã đến Tây Nguyên khi các thị xã bắt đầu hình thành, chủ yếu sống bằng buôn bán. Về văn hoá, mặc dù có một số điểm khác nhau, nhưng tựu chung lại đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vẫn còn lưu giữ và duy trì được những yếu tố văn hoá thống nhất tiêu biểu cho nền văn hoá bản địa cổ đại. Theo các tài liệu khảo cổ cho chúng ta thấy, Tây Nguyên thuộc vùng đất cổ, có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đã tồn tại các tập đoàn dân cư cổ, đã định cư nông nghiệp phân bố khá rộng. Tiêu biểu nhất vẫn là văn hoá Biển Hồ và văn hoá Cát Tiên. Văn hoá Biển Hồ phân bổ khá rộng trên cao nguyên đất đỏ Pleiku và có quan hệ nhất định với Văn hoá Sa Huỳnh của cư dân ven biển Trung Bộ. Các nền văn hoá đó góp phần tô đậm thêm truyền thống văn hoá và bức tranh tiền sử của các dân tộc Tây Nguyên. Nói đến Tây Nguyên, không thể nhắc tới kho tàng văn nghệ dân gian phong phú và nét độc đáo mang bản sắc văn hoá đặc trưng của cư dân cao nguyên, bao gồm văn học, âm nhạc, điêu khắc, múa hát, kiến trúc với đặc trưng văn hoá gắn chặt với sinh hoạt cộng đồng và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của đồng bào các dân tộc vùng Tây Nguyên. Thông qua kho tàng truyện thần thoại, truyện cười, cổ tích, ngụ ngôn, chiến đấu làm cho nền văn hoá dân gian Tây Nguyên mang nét đậm đà, tiêu biểu cho cách nghĩ, cách nhìn của đồng bào nơi đây. Với những bản trường ca (người Bana gọi là Hơ-mon; người Gia Rai gọi là Hơ Ri; người Ê Đê gọi là Khan) là những bản hùng ca, ca ngợi những nhân dân kỳ vĩ, biểu hiện tinh thần chống áp bức, phản ánh khát vọng tự do, muốn phá vỡ những ràng buộc 13

20 của xã hội cũ. Các bản trường ca Đam San, Xing Nhã, Đăm Di không chỉ là niềm tự hào của Tây Nguyên mà còn có giá trị lớn trong kho tàng văn học và truyện cổ dân gian Việt Nam. Ngoài ra, một số dân tộc ở Tây Nguyên còn có Luật tục ca, một bộ phận của kho tàng ca dao, tục ngữ và cũng là cơ sở của các tập tục của nhân dân. Các dân tộc Tây Nguyên đã sáng tạo ra nhiều đạo cụ độc đáo như đàn đá, đàn Tơ rưng, đàn Klong pút, các loại cồng chiêng. làm phong phú thêm đời sống âm nhạc và đời sống tinh thần của người Tây Nguyên. Ngoài điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội phong phú, đa dạng, Tây Nguyên còn là vùng đất có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường. Trong lịch sử đấu tranh, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã nhiều lần đứng lên chống lại các cuộc xâm lược của Xiêm La (Thái Lan), Vạn Tượng (Lào) Ngay giữa thế kỷ XVIII, nhân dân Tây Nguyên đã nổi dậy mạnh mẽ dưới ngọn cờ của nghĩa quân Tây Sơn chống lại ách thống trị của chúa Nguyễn hà khắc ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Những đàn voi chiến của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thuần dưỡng, huấn luyện là lực lượng đột kích chủ yếu của nghĩa quân Tây Sơn trong sự nghiệp thống nhất đất nước trong chiến dịch đại phá 29 vạn quân Thanh của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ. Hiểu rõ vị trí và tầm quan trọng của địa bàn chiến lược Tây Nguyên, ngay từ giữa thế kỷ XIX để chuẩn bị cho quá trình xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã cho hàng loạt tên gián điệp đội lốt giáo sĩ xâm nhập khảo sát địa dư, lập một số cơ sở Thiên chúa giáo trong những làng của đồng bào thiểu số. Theo chân các giáo sĩ, những đoàn thăm dò, phái bộ quân sự của thực dân Pháp liên tiếp đến Tây Nguyên thực hiện âm mưu cai trị vùng đất chiến lược này. Bằng các thủ đoạn thâm độc lừa bịp, mua chuộc, chia để trị đi đôi với trấn áp vũ trang, đến năm 1889, thực dân Pháp thiết lập chế độ trực trị, chính thức truất hẳn quyền hành của triều đình Huế khỏi Tây Nguyên. Dưới ách thống trị tàn 14

21 nhẫn của quân cướp nước, người dân Tây Nguyên bị cướp đất đai để lập đồn điền; phải nộp sưu thuế, lao dịch cực kỳ hà khắc; nhân dân bị chìm đắm trong cảnh hủ bại ngu dân. Với chính sách thống trị thâm độc của thực dân Pháp đã đẩy đồng bào vào cuộc sống ngày càng bần hàn, nạn đói triền miên. Tuy nhiên, với quyết tâm không chịu sống kiếp đời nô lệ, phát huy truyền thống bất khuất được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, đặc biệt bằng tinh thần thượng võ và ý chí kiên cường, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã đứng lên cầm vũ khí chiến đấu chống quân xâm lược. Trong những năm , nhân dân vùng An Khê đã hưởng ứng mạnh mẽ chiếu Cần Vương cứu nước, hội tụ dưới cờ khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng (Bình Định), tiến hành san bằng nhiều cơ sở bàn đạp của quân xâm lược và thành lập các đội nghĩa quân. Trong đó, nhân dân làng Tio (vùng Jrai) đã chặn đánh đoàn công cán của Công sứ Pháp Na-ven, buộc chúng phải rút chạy về Quy Nhơn. Cùng thời gian này, đồng bào Ba Na, Xê Đăng ở Kon Tum đã sát cánh cùng nghĩa quân Bình Định, Quảng Ngãi đánh thực dân Pháp xâm lược. Tiếp đó là cuộc nổi dậy quật khởi của đồng bào Xê Đăng ở Kon Tum (trong các năm 1901, 1909 và 1914); cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân An Khê, Cheo Reo hưởng ứng phong trào Duy Tân; nổi bật là cuộc khởi nghĩa của đồng bào Mơ Nông do Nơ Trang Lơng lãnh đạo, kéo dài hơn 20 năm ( ). Nhìn chung, những cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nề. Ở nhiều vùng, nhân dân vẫn làm chủ núi rừng, nhiều buôn làng sống hiên ngang như những pháo đài bất khả xâm phạm. Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh trên đều chưa có một đường lối đúng đắn, chưa có một phương hướng lãnh đạo phù hợp và chưa có sự liên kết rộng rãi giữa các dân tộc, các lực lượng, các vùng miền. Lực lượng nhỏ, yếu, phân tán, chiến đấu đơn lẻ nên tuy rất anh dũng, kiên cường nhưng cuối cùng đã thất bại. 15

22 Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo con thuyền cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi thành lập và suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng luôn coi trọng công tác dân vận, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc ít người. Nghị quyết về công tác trong các dân tộc ít người thông qua tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng năm 1935 đã khẳng định: Lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương [58, tr. 73]. Ở Tây Nguyên, ngay từ những năm , thị xã Kon Tum và Đà Lạt đã có cơ sở của Đảng Tân Việt. Tiếp theo một số đảng viên Đảng cộng sản vô sản hoá hoặc tránh các đợt khủng bố của địch ở các tỉnh đồng bằng lên hoạt động ở các đồn điền. Một số tổ chức quần chúng như Hội Ái Hữu, Cứu Tế đỏ, Công Hội đỏ lần lượt ra đời. Từ cuối năm 1930, nhằm khủng bố tinh thần cách mạng của những chiến sĩ cộng sản yêu nước và để uy hiếp, khủng bố tinh thần nhân dân, thực dân Pháp đã đưa nhiều chiến sĩ cách mạng vào cảnh tù đày khổ sai. Ở Tây Nguyên, thực dân Pháp đã bắt bớ và đưa hàng trăm chiến sĩ cách mạng từ khắp cả nước vào giam giữ ở các nhà tù Kon Tum và Buôn Ma Thuột. Với chế độ lao tù hà khắc, tù đày khổ ải, hàng trăm chiến sĩ cách mạng đã bị giết hại trên các công trường làm đường ở Đắk Tô, Đắk Pét (Kon Tum), Đắk Mil (Đắk Lắk). Nhiều cuộc đấu tranh liên tiếp nổ ra mà điển hình là cuộc đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản diễn ra ngày 12 tháng 12 năm 1931 phản đối chế độ hà khắc của địch ở ngục Kon Tum. Bằng nhiều thủ đoạn nhằm ly gián, chia rẽ các chiến sĩ cách mạng với quần chúng nhân dân. Nhưng qua các cuộc đấu tranh dũng cảm, kiên cường đó đã làm cho quần chúng càng hiểu rõ hơn về cách mạng, về người chiến sĩ cộng sản. Những cuộc tuyên truyền giáo dục vận động quần chúng mà trước hết là trong hàng ngũ hạ sĩ quan binh sĩ và công chức bộ máy thống trị đã đưa lại 16

23 nhiều kết quả. Đến đầu năm 1931, ở thị xã Kon Tum đã thành lập được một chi bộ Đảng Cộng sản trong binh lính ở nhà lao và một số chi bộ đường phố. Trong những năm 1931 đến cuối năm 1939, mặc dù bị địch đàn áp khủng bố ác liệt nhưng hạt giống cách mạng đã gieo mầm trên mảnh đất Tây Nguyên vẫn tồn tại. Tuy vậy, phong trào cách mạng và những ảnh hưởng của Đảng Cộng sản mới phát triển chủ yếu trong đồng bào người Kinh. Cơ sở cách mạng của Đảng trong đồng bào dân tộc thiểu số mới trong phạm vi một số công chức, hạ sĩ quan binh sĩ, trong các làng người dân tộc ven thị xã, gần các đồn điền và những nơi có các chiến sĩ cộng sản lưu đày. Đầu năm 1945, chiến tranh thế giới thứ hai đang bước vào giai đoạn cuối. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật tiến hành đảo chính Pháp để tránh bị đánh úp phía sau. Nắm thời cơ, phong trào cách mạng khắp từ Bắc, Trung, Nam diễn ra sôi nổi đã tác động mạnh mẽ đến tình hình Tây Nguyên. Các chiến sĩ Cộng sản đang bị giam cầm ở các nhà tù Kon Tum, Buôn Ma Thuột kiên quyết đấu tranh để thoát khỏi ách giam cầm của địch trở thành hạt nhân lãnh đạo của các địa phương. Tuy lúc này tổ chức Đảng ở một số tỉnh Tây Nguyên chưa được khôi phục, nhưng các đảng viên đã tự động bắt liên lạc với nhau để tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng ở từng địa phương. Một số tỉnh tuy chưa có cơ sở Việt Minh, nhưng quần chúng yêu nước chịu ảnh hưởng từ lâu của Đảng đã tổ chức ra một số tổ chức yêu nước vừa vận động nhân dân vừa tìm bắt liên lạc với Đảng. Mặc dù, trước ngày Nhật đảo chính Pháp, ở Tây Nguyên là nơi ít có cơ sở Việt Minh và tổ chức Đảng trực tiếp lãnh đạo, nhưng khi có lệnh Tổng khởi nghĩa, với tinh thần yêu nước quật khởi, quần chúng nhân dân ở Tây Nguyên đã tự giác nổi dậy giành chính quyền. Chỉ trong vòng 10 ngày (từ 18 đến 28 tháng 8 năm 1945), làn sóng cách mạng của đồng bào các dân tộc khắp các tỉnh ở Tây Nguyên đã quật đổ xiềng xích thống trị của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của dân tộc. 17

24 Xuất phát từ đặc điểm, vị trí địa lý hiểm trở, liên hoàn, tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng; nhân dân kiên cường dũng cảm, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ buôn làng Với những đặc trưng đó, Tây Nguyên chiếm một vị thế lợi hại, là địa bàn lý tưởng của chiến tranh du kích và cũng là đất căn cứ lâu dài và bền vững của cách mạng; là cơ sở để phát triển chiến tranh nhân dân trong những giai đoạn tiếp theo Bước đầu lãnh đạo xây dựng lực lượng và tiến hành chiến tranh du kích của Đảng ở Tây Nguyên từ năm 1945 đến Chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích ở Tây Nguyên Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Ngày 2 tháng 9, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do, thống nhất. Nhân dân đã trở thành người làm chủ đất nước, tự mình quyết định con đường xây dựng cuộc sống mới tự do, hạnh phúc sau hơn 80 năm sống dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và sau năm năm bị phát xít Nhật chiếm đóng. Vừa mới ra đời, con thuyền cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, chèo lái phải đương đầu với muôn vàn khó khăn và thách thức. Trong đó, nạn ngoại xâm trở nên ngày một bức thiết do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết liệt. Bên cạnh đó, chính quyền cách mạng non trẻ cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn, đặc biệt là nạn đói và nạn dốt. Tất cả những khó khăn đó đã tạo nên một bức tranh được ví như ngàn cân treo sợi tóc. Đúng như dự đoán, chỉ sau chưa đầy một tháng giành độc lập, ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, chính thức xâm lược nước ta một lần nữa. Trước tình thế thù trong giặc ngoài, khó khăn chồng chất khó khăn, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị 18

25 Kháng chiến, kiến quốc, đề ra các nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính sách lớn, trong đó xác định: Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước ta chưa được hoàn toàn độc lập. Khẩu hiệu vẫn là Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng [50, tr. 26]. Đầu năm 1946, thực dân Pháp mưu tính kế hoạch đưa quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Tưởng. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, tại Trùng Khánh, thực dân Pháp và Tưởng đã ký một bản hiệp ước Hiệp ước Hoa - Pháp, trong đó Pháp nhân nhượng một số quyền lợi kinh tế cho chính quyền Tưởng trên đất Trung Hoa để Pháp được đưa quân ra miền Bắc Việt Nam. Tưởng nhân nhượng với Pháp để rút quân về nước đối phó với Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Nhận thức đầy đủ tình hình mới, ngày 3 tháng 3 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Tình hình và chủ trương. Chỉ thị đã nhận định: Hiệp ước Pháp Hoa là biểu hiện sự thoả hiệp giữa bọn đế quốc với nhau. Do vậy, Vấn đề lúc này, không phải là muốn hay không muốn đánh. Vấn đề là biết mình biết người, nhận thức một cách khách quan những điều kiện lợi hại trong nước và ngoài nước mà chủ trương cho đúng [50, tr ]. Trung ương Đảng và Chính phủ, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn giải pháp đàm phán với Pháp với mục đích: buộc quân Tưởng rút ngay về nước, tránh tình trạng một lúc phải đối đầu với nhiều kẻ thù, bảo toàn lực lượng, tranh thủ thời gian hoà hoãn để chuẩn bị một cuộc chiến đấu mới, tiến lên giành thắng lợi [120, tr. 113]. Đảng nhấn mạnh, trong khi mở cuộc đàm phán, ta phải: không ngừng một phút, một công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn phải hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta [50, tr. 46]. 19

26 Tuy nhiên, thực dân Pháp đã bội ước, vi phạm những gì mà Chính phủ Việt Minh đã ký với Pháp. Phân tích âm mưu và hành động vi phạm đó, Đảng CSĐD đã nhận ra: Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình nhất định cũng phải sẽ đánh Pháp [50, tr. 133]. Đầu tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra những công việc khẩn cấp lúc bấy giờ để chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta gấp rút thực hiện, nhằm đối phó với cuộc chiến tranh chớp nhoáng của thực dân Pháp. Bằng thủ đoạn việc đã rồi, thực dân Pháp tăng cường khiêu khích, mở các cuộc tấn công lấn chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng; tàn sát thảm khốc đồng bào ở phố Yên Ninh, Hàng Bún (Hà Nội), ngang ngược đòi tước vũ khí của tự vệ Hà Nội, đòi kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô. Đến đây, thực dân Pháp đã bước sang cuộc phiêu lưu quân sự mới trên cả nước của chúng [99, tr. 307]. Những hành động ngang ngược đó của thực dân Pháp đã đặt Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước một tình thế không thể nhân nhượng thêm được nữa, vì tiếp tục nhân nhượng sẽ dẫn đến mất nước, nhân dân sẽ trở lại kiếp đời nô lệ. Trong hai ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1946, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng họp tại Vạn Phúc (Hà Đông) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì, kịp thời hạ quyết tâm phát động toàn dân kháng chiến trước khi thực dân Pháp thực hiện mở màn kịch đảo chính ở Hà Nội. Mệnh lệnh kháng chiến được phát đi. Vào lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, tất cả chiến trường trong cả nước đồng loạt nổ súng cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Trước khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 12 tháng 12 năm 1946 Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, nêu một cách tóm tắt nội dung đường lối và chính sách kháng chiến, gồm mục đích, tính chất, chính sách, chương trình kháng chiến, cơ quan lãnh đạo kháng chiến, khẩu hiệu tuyên tuyền, trong đó, về cách đánh, Chỉ thị vạch rõ: triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn lực lượng, kháng chiến lâu dài [50, tr ]. 20

27 Đáp lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước đã nhất tề đứng lên kháng chiến kiến quốc. Cuộc chiến đấu trên cả nước, đặc biệt tại các đô thị Bắc Vĩ tuyến 16 hồi đầu kháng chiến toàn quốc diễn ra trong suốt 2 tháng với hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, đã giành được những thắng lợi, góp phần kìm giữ chân địch, hạn chế mở rộng vùng chiếm đóng, đồng thời thực hiện tiêu thổ kháng chiến sơ tán nhân dân khỏi vùng có chiến sự Các cơ quan, kho tàng, nhà máy, nguyên vật liệu được di chuyển về vùng căn cứ, chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Lực lượng vũ trang thực hiện vừa chiến đấu, vừa xây dựng. Để có cơ sở xây dựng lực lượng và tiến hành kháng chiến, ngày 12 tháng 1 năm 1947, giữa lúc quân và dân ta vây đánh giặc Pháp tại các thành phố, thì Hội nghị quân sự lần thứ nhất họp tại Chương Mỹ (Hà Đông). Hội nghị chỉ rõ: với viện binh đang kéo đến, thực dân Pháp sẽ mở cuộc phản công và tiến công, cố tình đi sâu vào nước ta, hòng nuốt trôi nước ta [8, tr. 206]. Từ đó, Hội nghị quyết định: Nhiệm vụ chính lúc này là bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài. Do đó phải tránh mũi dùi chủ lực của địch để bảo toàn chủ lực và duy trì sức chiến đấu của bộ đội ta. Hội nghị quyết định: Phát động chiến tranh du kích, không cho địch phát triển vị trí và tiến quân mau lẹ [8, tr. 207]. Để làm được điều đó, Hội nghị yêu cầu: phải nắm bộ đội khi đánh rộng ra và phải biết vận dụng chiến thuật căn bản của ta là du kích, vận động chiến, chú trọng đánh những trận tiêu diệt để làm cho ta hi sinh ít mà thu được kết quả nhiều, thực hiện càng đánh càng mạnh [8, tr. 207]. Đến Thu Đông năm 1947, thực hiện âm mưu đánh nhanh thắng nhanh nhằm chụp bắt cơ quan lãnh đạo đầu não và bộ đội chủ lực Việt Minh, nhanh chóng kết thúc chiến tranh, thực dân Pháp mở cuộc tiến công đánh lên Việt Bắc. Với quyết tâm phá tan cuộc tấn công của giặc Pháp, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não kháng chiến, sau hơn hai tháng chiến đấu (từ ngày 7 tháng 10 đến ngày 21 tháng 12 năm 1947) quân và dân Việt Nam chiến đấu 21

28 anh dũng, bảo vệ an toàn cơ quan chỉ đạo kháng chiến, căn cứ địa cách mạng của cả nước, buộc địch phải rút khỏi Việt Bắc, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh thất bại hoàn toàn. Sau thất Việt Bắc Thu Đông 1947, thực dân Pháp chuyển sang thực hiện chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt. Theo đó, thực dân Pháp cho dựng lên chính phủ bù nhìn ở miền Nam, thực hiện chính sách bình định vùng tạm chiếm khốc liệt; tổ chức càn quét, triệt phá vùng tự do của Việt Minh. Đến đây trên chiến trường Việt Nam đã hình thành hai vùng rõ rệt xen kẽ nhau: vùng tự do và vùng địch tạm thời chiếm đóng. Trong không khí phấn khởi của toàn dân ta sau chiến thắng Việt Bắc, ngày 15 tháng 1 năm 1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng. Hội nghị đặt nhiệm vụ năm 1948: phát động chiến tranh du kích rộng rãi nhằm biến hậu phương địch thành tiền phương ta, buộc địch phải căng lực lượng ra để đối phó; tổ chức các chiến dịch tiến công trên các hướng địch yếu và sơ hở, nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, phá biện pháp vết dầu loang và hệ thống cứ điểm của địch, đồng thời rèn luyện cho bộ đội chủ lực trưởng thành trên bước đường tiến tới vận động chiến [20, tr. 69]. Đồng thời, Hội nghị cũng chủ trương: một mặt phát triển dân quân, phát triển chiến tranh du kích khắp nơi, nhất là trong vùng địch kiểm soát [20, tr ] Chấp hành chủ trương của Đảng, nhân dân Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp, từng bước làm thất bại các âm mưu của giặc Pháp; trong đó nổi lên phong trào phá tề của quân và dân ta trong vùng địch tạm chiếm được đẩy mạnh, bộ đội địa phương cùng dân quân du kích đã triệt phá, phá tan và làm rệu rã hàng ngàn tổ chức nguỵ tề cấp cơ sở. Cùng với đó, bộ đội Việt Minh đẩy mạnh hoạt động tác chiến, mở liên tiếp nhiều chiến dịch từ Nghĩa Lộ (1948), Đường số 3 (1948), Đông Bắc (1948) góp phần kìm chế sự chống phá bình định của thực dân Pháp. 22

29 Đối với Tây Nguyên, là địa bàn chiến lược quan trọng ở phía Nam Đông Dương, ngay từ tháng 11 năm 1945, Pháp đã tập trung một lực lượng lớn có hỏa lực và xe bọc thép yểm trợ từ Nam Bộ đánh vào Đắk Lắk, thực hiện âm mưu đánh nhanh thắng nhanh, chiếm Tây Nguyên làm bàn đạp tiến xuống đồng bằng. Ngay sau khi đánh chiếm được Tây Nguyên, thực hiện mưu đồ biến Tây Nguyên thành bàn đạp khống chế chiến trường Nam Đông Dương, thực dân Pháp tiến hành tách Tây Nguyên ra khỏi chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Ngày 27 tháng 6 năm 1946, Cao uỷ Pháp ở Đông Dương đã ký sắc lệnh hợp nhất các tỉnh Tây Nguyên thành một đơn vị hành chính riêng, lập ra Uỷ phủ Liên bang các dân tộc Thượng miền Nam Đông Dương, trực thuộc Cao uỷ Pháp. Pháp gọi là Xứ Tây Kỳ tự trị. Để củng cố địa bàn chiếm được, thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống cứ điểm, củng cố các trung tâm thị xã, các huyện lỵ, cho quân tập trung chốt chặn nhiều vị trí quan trọng, nhằm ngăn chặn các lực lượng của Việt Minh từ đồng bằng đánh vào. Bên cạnh đó, Pháp tìm mọi cách chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, hòng lôi kéo đồng bào Tây Nguyên chống lại cách mạng; gấp rút tổ chức lực lượng vũ trang Cao Nguyên để phục vụ cho mưu đồ chính trị lâu dài. Để đối phó lại với các âm mưu của thực dân Pháp trên chiến trường Tây Nguyên, thực hiện chủ trương biến hậu phương địch thành tiền phương ta mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1 năm 1948) đề ra, nhằm phát động phong trào đánh địch mạnh mẽ trên địa bàn, Hội nghị Phân ban kháng chiến hành chính Tây Nguyên tháng 1 năm 1948, trên cơ sở so sánh lực lượng đã đi đến quyết định: Tiếp tục đưa các đội vũ trang công tác đi sâu vào vùng nội địa Tây Nguyên; củng cố chính quyền ở những vùng ảnh hưởng của ta còn ít, lập những ban vận động chính quyền đi vào những nơi chưa có chính quyền để tổ chức và phát triển; kiện toàn tổ chức dân quân từ 23

30 Khu đến huyện, phát triển thêm dân quân, huấn luyện dân quân và phát động du kích chiến tranh; các đơn vị người dân tộc và các đại đội độc lập trở về các địa phương phối hợp với các đội công tác [34, tr. 41]. Trên cơ sở các chủ trương của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Hội nghị Phân ban kháng chiến hành chính Tây Nguyên, các cấp bộ Đảng ở địa bàn Tây Nguyên đã kịp thời ra nghị quyết, phát động du kích chiến tranh, đẩy mạnh kháng chiến toàn dân, toàn diện. Ban cán sự Đảng tỉnh Đắk Lắk chủ trương thực hiện phương châm: Ban xung phong công tác, đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập để gây dựng cơ sở địch hậu và phát động chiến tranh du kích vùng sau lưng địch [1, tr. 203]. Ủy ban hành chính tỉnh Gia Lai một mặt chủ trương củng cố bộ máy tổ chức, một mặt chủ trương bố trí lại lực lượng trên địa bàn tỉnh, đẩy mạnh xây dựng cơ sở và căn cứ bàn đạp, phát triển du kích chiến tranh [2, tr. 182]. Ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, nhanh chóng củng cố kiện toàn các cơ quan lãnh đạo tỉnh và chủ trương xây dựng các khu căn cứ cách mạng, chuẩn bị kháng chiến lâu dài Quân và dân Tây Nguyên tiến hành xây dựng lực lượng và phát động chiến tranh du kích Khi thực dân Pháp đặt chân đến xâm lược Tây Nguyên, nơi đây vẫn là vùng còn gặp nhiều khó khăn sau ngày giành độc lập; chính quyền cách mạng mới được thành lập ở cấp tỉnh, thị xã, huyện, các đồn điền và một số xã ở ven thị xã, huyện lỵ, dọc đường giao thông, còn lại đại bộ phận các buôn làng ở vùng cao, vùng xa hầu như chưa có tổ chức chính quyền và các đoàn thể cứu quốc; đội ngũ cán bộ trong bộ máy chính quyền và các đoàn thể cứu quốc các cấp còn thiếu và phần lớn là người Kinh, đa phần mới được tăng cường ở các tỉnh đồng bằng lên. Khó khăn lớn nhất và trực tiếp nhất là ở một số tỉnh chưa có tổ chức Đảng, có tỉnh có một vài chi bộ, nhưng lại chưa có cơ quan lãnh đạo chung. Trước tình hình này, để sớm đưa Tây Nguyên vào hoạt động có tổ chức, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho Xứ uỷ, Uỷ ban hành chính và Mặt trận 24

31 Việt Minh Trung Bộ, một mặt khẩn trương tìm mọi cách xây dựng và củng cố bộ máy lãnh đạo các cấp ở Tây Nguyên, mặt khác chỉ thị cho các tỉnh ven biển đưa cán bộ lên Tây Nguyên xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, chuẩn bị kháng chiến. Đi đôi với công tác tổ chức, các Đảng bộ và chính quyền nhân dân các cấp đều khẩn trương đẩy mạnh việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân về tình hình đất nước, về âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, các chủ trương, chính sách của Đảng, động viên mọi tầng lớp nhân dân ở địa phương hăng hái tham gia đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến. Nhiều đội tuyên truyền xung phong, đội công tác đi vào vùng sâu, vùng núi cao để vận động, giáo dục và thuyết phục quần chúng, xây dựng cơ sở, tổ chức chính quyền và các đoàn thể cứu quốc chuẩn bị cho chiến đấu lâu dài. Ngày 19 tháng 4 năm 1946, Đại hội các dân tộc thiểu số Nam Trung Bộ được tổ chức trọng thể tại thị xã Pleiku, trên 400 đại biểu các dân tộc thiểu số đến dự. Đại hội vinh dự và vui mừng khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên. Bức thư có đoạn: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Sê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ của chúng ta, vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta [132, tr. 72]. Những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được các đại biểu ra về tuyên truyền đến tận buôn, làng. Nhân dân các vùng tổ chức liên hoan và lễ ăn thề nêu cao quyết tâm đoàn kết dân tộc, đoàn kết Kinh - Thượng đánh giặc Pháp xâm lược. Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng, Xứ uỷ và Uỷ ban hành chính Trung Bộ đã tập trung chỉ đạo và tăng cường cán bộ để củng cố lại các cấp uỷ Đảng và cơ quan chính quyền các tỉnh, củng cố và xây dựng mới các 25

32 đơn vị vũ trang cách mạng, chú trọng xây dựng các đơn vị là người dân tộc, đồng thời củng cố lại Phân ban Quốc dân thiểu số miền Nam Trung Bộ để thống nhất chỉ đạo công tác vận động quần chúng, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, vùng địch kiểm soát ở cả Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng. Tháng 7 năm 1946, Tiểu đoàn Nơ Trang Lơng gồm toàn thanh niên người dân tộc được thành lập và trở về bám địa phương. Các đơn vị vệ quốc đoàn đã chiến đấu ở Tây Nguyên sau khi được củng cố cũng lần lượt được lệnh trở lại bám trụ và chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên. Các đơn vị đã cùng các đoàn cán bộ cơ sở tiến sâu vào vùng tạm bị địch chiếm ở Ma-đờ-rắc, Buôn Hồ, Cheo Reo, An Khê. Lực lượng gây cơ sở ở Kon Tum tiến vào các vùng Com Rẫy, Đắk Lây. Ở Lâm Đồng, Uỷ ban nhân dân Lâm Viên cử đồng chí Trương Văn Hoàn về Phan Rang, từ đó tổ chức đường dây liên lạc hợp pháp đưa truyền đơn, tài liệu lên Đà Lạt. Một số cán bộ khác lọt vào làm việc ở nhà máy điện, khách sạn Pa-la-ca, Nha Địa Dư Đến cuối năm 1946, nhiều vùng cơ sở dọc theo vùng giám ranh với đồng bằng và một số đồn điền đã được khôi phục. Trong một số công sở, xí nghiệp của địch ở thị xã Đà Lạt đã có cán bộ cơ sở của ta lọt vào hoạt động. Truyền đơn kêu gọi nhân dân đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược xuất hiện ở Đà Lạt, Cầu Đất, Bờ Rân (Lâm Đồng). Hoạt động quân sự của lực lượng ta sôi động, phong trào chính trị phát triển khá. Ta đã xây dựng cơ sở cách mạng ở 53 xã thuộc các huyện An Khê, Cheo Reo; các khu căn cứ Mường Hon (Kon Tum), Gia Hội (Gia Lai) được mở rộng. Nhiều buôn ở Mađờ-rắc, Buôn Hồ lập làng chiến đấu để chống giặc. Để phù hợp với tình hình và điều kiện chiến trường, tháng 1 năm 1947, Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định tổ chức lại chiến trường các tỉnh Tây Nguyên. Theo đó, thành lập Phân khu 15, gồm tỉnh Kon Tum, phần phía Bắc tỉnh Gia Lai, miền Tây Quảng Nam và miền Tây Quảng Ngãi. Cũng thời 26

33 gian này, Ban Chấp hành Đảng bộ Nam Trung Bộ cũng chỉ định Ban cán sự tỉnh Đắk Lắk gồm các đồng chí Nguyễn Khắc Tính, Nguyễn Trọng Ba, Ma Văn Khê để thống nhất lãnh đạo toàn tỉnh. Sau ngày thành lập, Phân khu 15 được Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ chỉ huy Khu 5 tăng cường cho một tiểu đoàn, 3 đại đội, một số đội công tác; đồng thời, điều phần lớn Trung đoàn 94 và 95 lên Gia Lai. Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến Gia Lai rút thanh niên bổ sung và tách Đại đội Đinh Đ Rong thành 2 đại đội Y Bin Bắc và Y Bin Nam, Bộ chỉ huy Khu 6 đưa toàn bộ Trung đoàn 79 1 lên Đắk Lắk. Trong lúc quân và dân khắp cả nước đang ra sức gây dựng cơ sở cách mạng, chuẩn bị lực lượng, thì trong suốt mùa Hè năm 1947, thực dân Pháp ra sức tăng cường lực lượng, chuẩn bị một đòn tiến công chớp nhoáng đánh lên Việt Bắc, ý định bắt gọn cơ quan đầu não chỉ huy của ta, kết thúc chiến tranh. Nắm chắc âm mưu này của địch, ngày 15 tháng 9 năm 1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị: Sửa soạn phá những cuộc tiến công lớn của địch [8, tr. 228]. Nhận rõ mục tiêu chính trong đợt tiến công này của quân Pháp là chiến trường chính miền Bắc, quân dân Nam Trung Bộ nói chung, các tỉnh Tây Nguyên nói riêng một mặt đẩy mạnh công tác bố phòng vùng tự do, sẵn sàng đối phó với những tình huống bất ngờ và phối hợp với cả nước đối phó với các âm mưu của địch, mà chủ yếu là chuẩn bị đầy đủ hoạt động sâu vào trong vùng địch tạm chiếm. Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, khi quân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc ngày 7 tháng 10 năm 1947, tại Tây Nguyên đã đẩy mạnh hoạt động phối hợp chia lửa, đồng thời lợi dụng lúc địch đang tập trung và khốn đốn ở Việt Bắc, các đội xây dựng cơ sở và lực lượng vũ trang ở Tây Nguyên đã đi 1 Tháng 3 năm 1947, Trung đoàn 79 và Tiểu đoàn Nơ Trang Lơng hợp nhất thành Trung đoàn 84. Các đồng chí Lê Lương làm Trung đoàn trưởng, Nguyễn Trọng Ba làm Chính trị viên. 27

34 sâu vào các vùng đồng bào dân tộc, tuyên truyền, phát động và vận động đồng bào không nghe theo địch, không đi lính cho địch, đồng thời xây dựng cơ sở cách mạng, chính trị và vũ trang, làm cơ sở để đối phó lại với các âm mưu của địch. Đồng thời, liên tiếp tiến công nhiều vị trí của chúng, vừa tranh thủ phát động nhân dân mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích. Do vậy, chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm, chính quyền cách mạng đã được thiết lập trong phần lớn đồng bào theo đạo thiên chúa dọc đường số 5 từ Kon Plong đến Đắk Hà, Đắk Tô. Đây là một thành công lớn của Đảng trong công tác vận động quần chúng, nhất là vùng theo đạo. Nó chứng tỏ một khi chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo của Đảng được tổ chức thực hiện chu đáo, đầy đủ, sẽ tạo ra sức mạnh to lớn làm thất bại mọi thủ đoạn xuyên tạc, chia rẽ của quân địch. Đến cuối năm 1947, chính quyền cách mạng đã được thành lập trong 700 làng ở Tây Nguyên. Trong đó, toàn tỉnh Kon Tum đã xây dựng được chính quyền cách mạng ở 200 làng; nhân dân tự động rào làng, cắm chông, tổ chức bố phòng chống địch. Ở Gia Lai, cơ sở cách mạng phát triển mạnh dọc hai bên đường 19; một số đội vũ trang công tác đã vượt đèo Mang Yang, bắt liên lạc được với công nhân ở các đồn điền Đắk Đoa, Biển Hồ. Ở Đắk Đoa, các đội công tác đã xây dựng được cơ sở trong một số buôn ở Đông Bắc M Đrak vùng Krông H mang ở Buôn Hồ và vùng phía Đông sông Ba ở Cheo Reo. Các đội vũ trang công tác của Đồng Nai Thượng đã bám được vào vùng ven B Lao và Di Linh; cơ sở trong thị xã Đà Lạt tuy bị đánh phá ác liệt, vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, quân và dân Tây Nguyên còn đẩy mạnh công tác diệt tề, trừ gian, tiến công, tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận địch, hỗ trợ mạnh mẽ cho công tác xây dựng cơ sở. Sau thất bại ở Việt Bắc Thu Đông 1947, thực dân Pháp buộc phải thay đổi chiến lược đánh nhanh thắng nhanh sang đánh kéo dài, thực hiện chính sách dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, đưa một phần lực lượng ở miền Bắc quay về bình định miền Nam. Từ mở 28

35 rộng vùng chiếm đóng, thực dân Pháp chuyển sang củng cố vùng chiếm đóng; thay thế những cuộc hành quân lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ không nhằm trực tiếp tiêu diệt chủ lực ta mà nhằm phá hoại cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị. Thực dân Pháp coi miền Nam là nơi cung cấp lực lượng dữ trự chủ yếu cho cuộc chiến tranh. Ở Tây Nguyên, thực dân Pháp tìm mọi cách để nắm quyền thống trị. Trong một thông tri của công sứ Pháp, đề ngày 8 tháng 7 năm 1947 cho rằng: Nếu đặt định đề là nước Pháp phải bám lấy Đông Dương bằng mọi giá, thì ngay từ bây giờ chúng ta phải có những lo liệu. Nếu chúng ta thành công trong việc biến vùng cao nguyên thành một xứ hoàn toàn Pháp hoá, thì chúng ta sẽ có một bàn đạp tuyệt diệu để chế ngự về mặt quân sự và sau đó về mặt chính trị một phần lớn ở Đông Dương. Muốn cho cao nguyên biến thành Pháp, chúng ta phải loại trừ người An Nam, chúng ta phải tạo một quốc gia đối lập với xứ miền duyên hải. Mục tiêu phải đạt là làm sao giữ vững Đông Dương lại cho nước Pháp [16, tr. 39]. Thực hiện âm mưu đó, một mặt quân Pháp ra sức củng cố và mở rộng hệ thống cứ điểm, mặt khác thực hiện chiến thuật cứ điểm nhỏ và đội ứng chiến nhỏ liên tục đánh phá và càn quét, dồn nhân dân, đưa các con bài như chiêu an, phát triển tề điệp, mua chuộc các chủ già làng, tổ chức phát thẻ, chụp ảnh để kiểm soát chặt chẽ nhân dân ta trong từng buôn làng. Cùng với đó, để lợi dụng triệt để chính sách chia để trị, thực dân Pháp đã cho dựng lên bộ máy nguỵ quyền ở khắp các địa phương, mở đại hội nhân dân để mị dân, tuyên truyền chính sách chia rẽ giữa đồng bào Kinh và đồng bào Thượng, trưng cầu dân ý để chọn người đưa vào bộ máy chính quyền bù nhìn. Về chính trị: để thâu tóm về chính trị, thực dân Pháp đã thực hiện ba chính sách lớn: một là chính sách có mặt : tức là thông qua bộ máy cai trị từ tỉnh đến buôn làng, các đồn bốt và các cuộc thị sát hành chính nhằm mục đích có thể uy hiếp và kèm chặt dân; hai là chính sách muối, dụng cụ sản xuất: 29

36 bằng những cách kiểm soát chặt chẽ những nhu cầu tối cần thiết của người dân để buộc nhân dân phải lệ thuộc hoàn toàn vào chúng; ba là chính sách không can thiệp, đây là một trong những thủ đoạn thâm độc và mị dân, tức là bề ngoài chúng làm như tôn trọng phong tục tập quán của bà con các dân tộc, nhưng thực chất là duy trì những tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan nhằm kìm hãm nhân dân trong vòng tăm tối để dễ bề cai trị, duy trì các luật tục để cho bọn bù nhìn tay sai dễ bề đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân, đề cao uy quyền của tù trưởng, nắm lấy tù trưởng để khống chế nhân dân. Về kinh tế: chúng cho khôi phục lại các sắc thuế cũ, tăng các loại thuế, đặc biệt là thuế thân. Mở lại các đồn điền bắt nhân dân làm cực nhọc hơn trước. Bên cạnh đó, để thực hiện chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh thực dân Pháp tìm mọi cách cướp bóc thóc lúa, trâu bò, tài sản của nhân dân, làm cho nhân dân mất cái để làm ăn, dần lệ thuộc vào chúng. Về quân sự: nhằm thực hiện mưu đồ biến cao nguyên thành một vùng hoàn toàn thuộc quyền cai trị của Pháp chấm dứt sự du nhập của người Việt [61, tr. 43] và để tiến tới thực hiện triệt để chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia Tây Nguyên thành 3 Phân khu và một Chi khu nằm trong vùng chiến thuật Nam Trung phần, xây dựng hệ thống các cứ điểm. Trong đó, tập trung xây dựng Buôn Ma Thuột thủ phủ và là căn cứ quân sự quan trọng ở Tây Nguyên; đưa một tiểu đoàn lính khố xanh, một tiểu đoàn lính khố đỏ đóng ở đây, đồng thời cho gia cố thêm nhiều đồn bốt và các bốt gác quan trọng trên các trục đường. Ở mỗi tỉnh, hệ thống cứ điểm hình thành từ nội địa lan dần đến vùng giáp ranh với các tỉnh lân cận, đặc biệt chúng chú ý xây dựng hệ thống cứ điểm chung quanh thị xã và các huyện lỵ, thị trấn dọc theo vùng giáp ranh với các tỉnh đồng bằng ven biển và dọc theo các đường giao thông. Ngoài các đơn vị lính Pháp, lính lê dương, thực dân Pháp đặc biệt coi trọng xây dựng các đơn vị người Thượng, như tập hợp lại số lính và hạ sĩ 30

37 quan người Thượng rã ngũ khi Nhật đảo chính, cho khôi phục cấp bậc, chức vụ và cho truy lĩnh lương từ ngày về buôn, nâng lương, nâng cấp cho một số tên, chọn một số có văn hóa cho đi học sĩ quan, đặt ra ngạch sĩ quan người Thượng và phong quân hàm thiếu úy, trung úy cho một số tên, mua chuộc thành phần này về làm tay sai. Với việc thực hiện những mưu đồ đó, Pháp đã gây ra không ít khó khăn cho phong trào cách mạng của ta ở địa bàn Tây Nguyên. Nhưng âm mưu nắm dân, chia rẽ Kinh - Thượng của thực dân Pháp đã thất bại ngay từ đầu. Mặc dù có lôi kéo được một bộ phận, nhưng nhìn chung phần lớn các tầng lớp như những nhân sĩ, tri thức người dân tộc có uy tín đã đi theo cách mạng, một số ít bị kẹt lại hoặc bị chúng bắt đều không chịu hợp tác; một số ít ra làm cho chúng đều bị nhân dân khinh ghét, bất hợp tác. Nhằm mở rộng căn cứ, tạo điều kiện cho bộ đội hoạt động, ngày 28 tháng 8 năm 1948, Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh đã ra Huấn lệnh bàn về nhiệm vụ chiến lược của Nam Trung Bộ trong giai đoạn mới. Sau khi vạch rõ tầm quan trọng của địa bàn chiến lược Tây Nguyên, Huấn lệnh chỉ thị: Mở rộng căn cứ địa sau lưng Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, hoạt động sang miền Đông, mở rộng căn cứ địa bắc Kon Tum và mặt trận A Tô-Pơ, Sa-ra-van, Pắc Xế [36, tr. 120]. Lúc này, chiến trường Khu 5 đã chia thành 2 vùng rõ rệt: vùng tự do và vùng địch tạm chiếm đóng. Vùng địch tạm chiếm đóng có Tây Nguyên, địa bàn chiến lược trọng yếu khống chế cả miền Nam Đông Dương. Khu căn cứ địa Nam Ngãi Bình Phú đã trở thanh hậu phương trực tiếp của chiến trường Nam Trung Bộ và chỗ dựa vững chắc cho cuộc chiến đấu của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên. Cũng trong thời gian này, Khu uỷ 5 và Uỷ ban kháng chiến Nam Trung Bộ chỉ thị cho các tỉnh ở vùng tự do có trách nhiệm cụ thể trong việc cử cán bộ, đảng viên lên tăng cường cho các tỉnh Tây Nguyên, đồng thời giúp đỡ thiết thực về vật chất cho công tác gây cơ sở ở Tây Nguyên; Khu uỷ và Uỷ ban 31

38 kháng chiến Nam Trung Bộ cũng quyết định thành lập Văn phòng Tây Nguyên để theo dõi chỉ đạo chặt chẽ phong trào kháng chiến ở địa bàn chiến lược quan trọng này và mở trường đào tạo cán bộ hoạt động địch hậu cho Tây Nguyên. Theo đó, gần 100 cán bộ các ngành của các tỉnh vùng tự do đã được đưa về Tây Nguyên hoạt động, có trách nhiệm giúp đỡ về vật chất, gây dựng phong trào cách mạng cho các tỉnh Tây Nguyên. Từ giữa năm 1948 trở đi, thực hiện chủ trương xây dựng và củng cố các lực lượng vũ trang cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, 10 đại đội độc lập và 14 đội vũ trang tuyên truyền hoặc vũ trang công tác lần lượt tiến vào nội địa Tây Nguyên. Tiểu đoàn Nơ Trang Lơng trong biên chế của Trung đoàn 84 về hoạt động ở M Đrac, Buôn Hồ, 2 đại đội Y Bin Nam và Y Bin Bắc về Nam An Khê và Bắc An Khê hoạt động. Mỗi đội vũ trang tuyên truyền hoặc vũ trang công tác khoảng 30 cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn kỹ, có phẩm chất chính trị tốt, trang bị gọn nhẹ, được cấp một số tiền Đông Dương để mua lương thực trong vùng địch. Cấp uỷ địa phương cử một số cán bộ có kinh nghiệm hoạt động vùng đồng bào dân tộc, thông thạo địa bàn, tiếng dân tộc mang theo nông cụ, muối, thuốc để cung cấp cho nhân dân. Từng đội vũ trang tuyên truyền đều tổ chức một tổ, hoặc một ban xung phong đi trước nắm tình hình, làm công tác chuẩn bị mọi mặt, trong đó chú trọng công tác nắm đối phương, nắm tình hình của nhân dân, chuẩn bị đường sá, vật chất Thực hiện phương châm 3 cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm nhiều cán bộ, chiến sĩ trong các đội vũ trang tuyên truyền hoặc đội công tác đã thực hiện làm theo các phong tục địa phương như cà răng, căng tai, học tiếng nói, cởi trần, đóng khố đi sâu vào từng buôn, làng để tìm hiểu nhân dân, tìm hiểu các mối quan hệ xã hội, làm công tác vận động quần chúng cơ bản, tranh thủ già làng, trưởng bản, vô hiệu hoá hoặc trừng trị những tên tay sai có nhiều nợ máu với nhân dân 32

39 Trong quá trình vận động gây dựng cơ sở, nhiều đội công tác đã coi trọng vận động các gia đình có có chồng, con đi lính làm tay sai cho Pháp, qua đó đã xây dựng được một số mối quan hệ trong hàng ngũ kẻ thù, tạo điều kiện cho bộ đội diệt đồn, rở rộng căn cứ. Trận diệt hai đồn Plók và Iake trong một đêm của Đại đội Y Bin Nam là một điển hình. Cùng với việc xây dựng căn cứ, các địa phương đều chú trọng vận động nhân dân làm nhiều nương rẫy. Gạo, muối của của các tỉnh đồng bằng đưa lên một phần dành lại tổ chức các kho dự trữ, phần còn lại chia phát cho nhân dân. Riêng năm 1948, tỉnh Gia Lai đã tiếp tế cho đồng bào các dân tộc trên nông cụ và gần 90 tấn muối. Tỉnh Đắk Lắk tổ chức hai điểm thu mua ở Cheo Reo và Sơn Hoà để mua các hàng lâm thổ sản của đồng bào các dân tộc, lượng hàng hoá trao đổi hai chiều cả năm lên đến trên đồng, cơ quan kinh tế các tỉnh còn hướng dẫn và cung cấp cho nhân dân các loại hạt giống và con giống. Đi đôi với việc cải thiện đời sống nhân dân, một số tỉnh còn chăm lo việc học tập văn hoá, tổ chức các lớp xoá mù chữ cho các cán bộ cơ sở và nhân dân các vùng căn cứ, hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh, cung cấp thuốc men, thăm khám chữa bệnh cho nhân dân. Với hàng loạt các chủ trương và biện pháp tích cực, với tinh thần chịu đựng gian khổ, vượt lên mọi khó khăn của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công tác phát động quần chúng gây cơ sở, bám đất, giành dân ở Tây Nguyên phát triển khá thuận lợi. Trên cơ sở lực lượng chính trị ngày một mở rộng, lực lượng vũ trang cơ sở cũng từng bước được xây dựng. Riêng ở hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, chỉ trong vòng 8 tháng, số buôn, làng có chính quyền cách mạng tăng gấp đôi năm 1947, lực lượng vũ trang, du kích được xây dựng rộng rãi. Đến giữa năm 1948, tỉnh Đắk Lắk đã xây dựng được 455 du kích ở buôn, làng và hai trung đội du kích thoát ly 74 người. Tỉnh Gia Lai có du kích (79 du kích thoát 33

40 ly), tỉnh Kon Tum có 480 du kích (80 du kích thoát ly). Nhiều đội du kích đã bám nương rẫy để sản xuất và đánh các cuộc càn quét lùng sục của địch. Giữa tháng 11 năm 1948, du kích Cheo Reo phối hợp với đội vũ trang tuyên truyền phá sập 4 cầu trên đường số 7 đoạn từ M Lãnh đi Ainu. Ở Kon Tum du kích Kom Trút xã Hiếc dùng ná bắn chết 2 sĩ quan Pháp khi chúng càn vào căn cứ. Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn này nổi bật lên là quân và dân Tây Nguyên đã nắm vững quan điểm cách mạng của Đảng, quán triệt sâu sắc và từng bước tổ chức thực hiện đường lối kháng chiến một cách có hiệu quả, kiên trì với công tác vận động giáo dục thuyết phục quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, không để chúng lợi dụng chia rẽ dân tộc. Trong đó, đã từng bước xây dựng được một đội ngũ cán bộ và xây dựng cơ sở cách mạng, chấn chỉnh lực lượng, phát động chiến tranh du kích, đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh với những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp xâm lược trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên Tiếp tục lãnh đạo chiến tranh du kích trong các năm Chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích trên toàn Tây Nguyên Bước sang năm 1949, tình hình quốc tế và Đông Dương bất lợi cho thực dân Pháp. Cách mạng Trung Quốc phát triển mạnh, Giải phóng quân đang tiến ào ạt xuống Hoa Nam. Đế quốc Mỹ từng bước can thiệp sâu hơn vào Đông Dương. Trong khi đó, tại nước Pháp, nội các Hăng-ri Cơi (Henri Queuille) lên nắm quyền vào tháng 1 năm 1949 đã tạo được sự ổn định nhất thời về chính trị, nhưng không sao giải quyết nổi những khó khăn về kinh tế, tài chính và nhu cầu của các cuộc chiến tranh xâm lược hải ngoại. Ở Đông Dương mặc dù có sự tăng viện của hàng chục ngàn quân, nhưng do phải căng ra đối phó với những cuộc tiến công ngày càng tăng của quân và dân ta nên Pháp vẫn ở trong tình trạng thiếu lực lượng nghiêm trọng. Vùng tạm chiếm ngày càng mất ổn định. Quân Pháp bị phân tán, phải đối phó khắp mọi nơi từ đồng bằng đến miền núi, sức chiến đấu bị sa sút nghiêm trọng. 34

41 Về phía cách mạng, đầu năm 1949, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (họp từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 1 năm 1949) xác định nhiệm vụ cần kíp lúc này: tiếp tục phá tan chiến dịch thu đông của địch; thực hiện thế cầm cự ngày càng có lợi cho ta; nỗ lực thực hiện phương châm chiến lược của giai đoạn mới; đánh mạnh hơn nữa vào hậu phương của địch, đánh vào các vị trí chiến lược, cắt đường giao thông quan trọng; hướng hoạt động chính là những vùng chiến lược và kinh tế quan trọng mà địch đang ra sức củng cố; vận động và đánh tan ngụy binh, gây cơ sở du kích ở vùng địch tạm chiếm. [52, tr. 1]. Phương châm chính vẫn là du kích chiến là căn bản, vận động chiến là bổ trợ, đồng thời mạnh dạn đẩy vận động chiến tiến tới và kịp thời nâng cao vận động chiến lên địa vị quan trọng để tiến sang giai đoạn phản công, tích cực chuẩn bị tổng phản công [52, tr. 1-2]. Thực hiện phương châm Du kích chiến là căn bản, vận động chiến là bổ trợ, du kích chiến đã được thực hiện với chủ trương phát triển dân quân xã, kiện toàn du kích tập trung, đi đôi với chủ trương bán xung phong công tác, đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập. Vận động chiến được thực hiện với chủ trương tiểu đoàn tập trung, trung đoàn chủ lực, đại đoàn chủ lực. Hình thức tác chiến phổ biến là tập kích, phục kích và vận động bao vây. Từ tháng 3 năm 1949 trở đi, bộ đội Việt Minh mở một loạt các chiến dịch quy mô lớn trên các chiến trường, làm cho hệ thống cứ điểm nhỏ và đội ứng chiến nhỏ ở miền núi của Pháp bị tan rã một phần. Sang năm 1950, trước diễn biến tình hình ngày càng xấu đi trên các chiến trường, thực dân Pháp buộc phải cho Mỹ can thiệp ngày càng sâu hơn trong chiến tranh Đông Dương. Trên các chiến trường, thực dân Pháp tập trung bình định vùng chiếm đóng, đánh phá ác liệt vùng tự do của ta được xúc tiến với đủ loại quy mô lớn, vừa, nhỏ với mật độ dày đặc và cường độ cao, gây không ít khó khăn cho quân và dân ta. Để phá âm mưu của địch, ngay từ tháng 1 năm 1950, Trung ương Đảng đã tiến hành Hội nghị toàn quốc lần thứ 3, chủ trương: Phát triển chiến tranh 35

42 du kích đến cao độ đồng thời triển khai vận động chiến, vừa đánh quân cơ động, chống phá các cuộc hành quân càn quét, vừa tiêu diệt các vị trí, đồn bốt và thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch [29, tr. 35]. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, quân và dân ta trên khắp các chiến trường đẩy mạnh các hoạt động chống phá càn, bảo vệ căn cứ kháng chiến, mở các chiến dịch vừa và nhỏ tấn công địch trên các địa bàn hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển. Đặc biệt chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950 giành thắng lợi, đã mở ra một bước ngoặt mới, chuyển cuộc kháng chiến của ta từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn. Đối với vùng Tây Nguyên, trước sự lớn mạnh của phong trào kháng chiến, ngay từ đầu năm 1949, thực dân Pháp tập trung lực lượng tăng cường càn quét, ngăn chặn các đường tiến quân của quân ta vào nội địa Tây Nguyên. Mặt khác, chúng ra sức bắt phu, lính, lập ngụy quân, ngụy quyền. Lợi dụng một vài thiếu sót của ta, địch ra sức tuyên truyền chia rẽ khoét sâu mâu thuẫn, kích động hằn thù dân tộc. Địch tập trung đánh phá quyết liệt với nhiều thủ đoạn nhan hiểm và xảo quyệt, nhưng ta lại chưa nhạy bén trước tình hình mới, phương thức đối phó chưa kịp thời và không thích hợp. Phong trào chựng lại. Phần lớn các đội công tác cắm sâu vào nội địa Tây Nguyên bị đánh bật ra. Một số đội bị tổn thất. Trước tình hình đó, Liên khu ủy 5 chủ trương: Trong năm 1949 chiến thuật quân sự vẫn du kích chiến là chính, trong điều kiện thuận lợi mở rộng chiến tranh du kích phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ, quyết tâm giành thế chủ động, phá tan âm mưu củng cố vùng tạm chiếm của địch, biến hậu phương của chúng thành tiền phương của ta [60, tr. 172]. Đầu tháng 5 năm 1949, Hội nghị quân sự toàn Liên khu 5 lần thứ nhất họp và xác định rõ chiến trường Tây Nguyên là chiến trường chính và kiên quyết mở rộng mặt trận Tây Nguyên, mạnh dạn tiến sâu vào vùng vùng bị chiếm. Khẩu hiệu là 36

43 Tất cả cho vùng tạm chiếm, giành lại từng phần Tây Nguyên [60, tr. 173]. Đây là sự chuyển hướng chỉ đạo của Liên khu 5 đối với công tác vùng tạm chiếm, đặc biệt là chủ trương đối với chiến trường Tây Nguyên. Tháng 11 năm 1949, Hội nghị Liên khu uỷ 5 được triệu tập, trên cơ sở tổng kết tình hình 3 năm xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, phát động du kích chiến tranh ở Tây Nguyên (từ tháng 7 năm 1946 đến tháng 7 năm 1949), sau khi khẳng định một số thành tích đạt được, đã nghiêm khắc chỉ rõ các khuyết điểm chính như: nhận thức vị trí chiến lược của Tây Nguyên chưa thật đầy đủ, nên việc chỉ đạo chưa tập trung đúng mức; chưa nắm vững khâu công tác hàng đầu là giáo dục giác ngộ dân chúng, vạch tội ác của địch, phát động nhân dân, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa bộ đội, cán bộ với nhân dân, xoá bỏ hằn thù dân tộc để cùng đoàn kết kháng chiến; phương pháp công tác chưa thích hợp, tổ chức cồng kềnh, hoạt động quy mô rầm rộ, không phù hợp với công tác gây cơ sở ở vùng sâu, thiếu kế hoạch bảo vệ cơ sở, bảo vệ phong trào trong lúc diệt ác trừ gian; phần lớn cán bộ và chiến sĩ đi gây cơ sở là người Kinh lại chưa được giáo dục kỹ, nên đã vi phạm phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc [36, tr ], [34, tr ]. Để khẳng định vai trò to lớn của công tác vận động quần chúng nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh, một lần nữa Hội nghị xác định mục đích của công tác vận động gây cơ sở ở Tây Nguyên tiếp tục là vận động chính trị, tranh thủ nhân dân, tổ chức hướng dẫn nhân dân đánh giặc cứu nước. Và, phải lấy việc giáo dục nhân dân, làm cho nhân dân tự giác đứng lên đánh giặc là điều quan trọng nhất. Mọi hành động gò ép, mệnh lệnh hoặc làm theo lối hình thức tập hợp, phổ biến, ghi tên... đều không đưa lại kết quả mong muốn. Hội nghị chỉ ra phương châm hoạt động trong thời gian tới là: Kiên trì vận động. Lấy việc vận động giác ngộ chính trị và cải thiện đời sống làm chính. Hoạt động quân sự chỉ là hỗ trợ. Hành động quân sự phải đúng lúc và có phương thức thích hợp. Khi cơ sở đã vững chắc, cần tổ chức vũ trang cho 37

44 quần chúng, phát động quần chúng tự đánh địch, từng bước đưa lên thành vùng du kích, căn cứ du kích [36, tr ]. Hội nghị đi đến thống nhất chỉ đạo quân, dân, chính đảng ở mỗi địa phương thành một tổ chức dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ địa phương[36, tr. 126]. Để tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng trong công tác Tây Nguyên, Liên khu uỷ 5 quyết định tổ chức, củng cố lại Tỉnh uỷ và Ban cán sự một số tỉnh. Theo đó, Ban cán sự Đảng Lâm Viên do đồng chí Lê Tự Nhiên làm Bí thư; Ban cán sự Đảng Đồng Nai Thượng do đồng chí Thu Lâm làm Bí thư; Ban cán sự Đảng Gia Lai do đồng chí Tống Đình Phương làm Bí thư. Tiếp đến tháng 12 năm 1949, Liên khu uỷ 5 thống nhất hợp hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai thành tỉnh Gia Kon (Bắc Tây Nguyên). Các đơn vị vũ trang đang hoạt động ở hai tỉnh hợp nhất lại thành Trung đoàn 120 gồm 8 đại đội độc lập và 10 đội vũ trang tuyên truyền. Tỉnh Đắk Lắk (Nam Tây Nguyên) là chiến trường chính. Trung đoàn 84 được tăng cường thêm lực lượng và biên chế thành 2 liên đại đội, 6 đại đội độc lập, 8 đội vũ trang tuyên truyền. Ban cán sự Đảng của hai tỉnh cũng được tăng cường và do hai đồng chí Liên khu uỷ trực tiếp làm Bí thư. Đầu năm 1950, để nắm chắc hơn nữa địa bàn chiến lược này, thực dân Pháp buộc Bảo Đại phải ký sắc lệnh bãi bỏ Uỷ phủ Liên bang để lập nên hạt hành chính riêng cho Tây Nguyên gọi là Hoàng Triều Cương Thổ, giao cho Bảo Đại giữ quyền tối cao nhưng mỗi khi Quốc trưởng Bảo Đại ban bố hay thay đổi quy chế cho Hoàng Triều Cương Thổ, thì đều phải được sự chấp thuận của Chính phủ Pháp [117, tr. 7]. Cùng với đó, thực dân Pháp ra sức xúc tiến thành lập các đơn vị biệt kích xuyên sơn; đẩy mạnh việc bắt lính đôn quân, giành giật nhân dân bằng việc chiêu an, dồn dân, tập trung các buôn làng ở vùng sâu vùng xa về quanh các đồn bốt hoặc ven trục giao thông để chia rẽ cách mạng, khống chế nhân dân phục vụ cho mưu đồ xâm lược. 38

45 Để phá tan âm mưu của địch, Hội nghị cán bộ Đảng toàn Liên khu 5 lần thứ 2 (cuối tháng 1 năm 1950), được triệu tập. Trên cơ sở phân tích tình hình địch, ta trên chiến trường, Hội nghị đã chủ trương tiếp tục phát triển du kích chiến tranh đến cao độ ở trong vùng sau lưng địch, đồng thời tập trung binh lực mở những chiến dịch lớn và liên tục tạo một chuyển biến trong tương quan lực lượng giữa địch và ta, giành chủ động hoàn toàn về chiến dịch đi đến chủ động chiến lược bộ phận tiến tới chủ động hoàn toàn [36, tr. 163]. Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng, của Liên khu ủy 5, Đảng bộ các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng triển khai thực hiện nghiêm túc. Ban cán sự Đảng Đắk Lắk chủ trương phát triển mạnh cơ sở chính trị và du kích ở khu M Đrắk, Cheo Reo Đông Buôn Hồ [1, tr. 213]. Ban Cán sự Gia Lai ra chủ trương chấn chỉnh công tác gây cơ sở địch hậu, đẩy mạnh phát triển cơ sở vào vùng xung yếu, nhất là phía Tây Đường 14 và vùng phụ cận đô thị, đồn điền [2, tr. 189]; Kon Tum cũng chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các vùng như Nam, Bắc Kon Plong, Đắk Tô, Đắk Glei Ở Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, Ban cán sự Đảng cũng chủ trương đẩy mạnh cơ sở địch hậu ở Đồng Nai Thượng xây dựng cơ sở mọi mặt, kiềm chế tiêu hao phá hoại địch và chuẩn bị chiến trường cho chủ lực hoạt động [61, tr.88]. Có thể thấy, trong hai năm , trước diễn biến tình hình ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho thực dân Pháp, Trung ương Đảng đã kịp thời đưa ra nhiều chủ trương lãnh đạo đối với chiến tranh du kích. Ở Tây Nguyên, để đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy, bảo đảm cung cấp cho mọi lực lượng đang hoạt động ở mỗi tỉnh, Liên khu uỷ 5 quyết định hợp nhất các lực lượng quân - dân - chính ở mỗi địa phương thành một tổ chức thống nhất, dưới sự lãnh đạo thống nhất của cấp uỷ địa phương. Đồng thời, lãnh đạo đẩy mạnh phong trào chiến tranh kích sang giai đoạn mới. 39

46 Quá trình hiện thực hóa chủ trương của Đảng về chiến tranh du kích của quân và dân Tây Nguyên. Đầu năm 1949, ở Tây Nguyên, để hạn chế sự lớn mạnh của phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn, thực dân Pháp đã tập trung lực lượng tăng cường càn quét, ngăn chặn các đường tiến quân của ta nhằm đẩy lùi các đội gây dựng cơ sở đang đi sâu vào vùng nội địa. Cùng với đó, chúng đẩy mạnh bắt lính, bắt phu, lập nguỵ quân, nguỵ quyền; lợi dụng những thiếu sót của ta, để ra sức tuyên truyền chia sẽ dân tộc, chia rẽ Kinh - Thượng, tập trung đánh phá phong trào cách mạng với nhiều thủ đoạn nham hiểm và xảo quyệt. Trong khi đó, về ta, mặc dù có nhiều tiến bộ trong đối phó với địch, gây dựng phong trào cách mạng, song cũng chưa thực sự sâu sát tình hình nhân dân, chưa nhạy bén trước âm mưu của địch, chưa có kế hoạch đối phó kịp thời, nên ở một số địa phương phong trào có phần chững lại. Phần lớn các đội vũ trang tuyên truyền, các đội công tác cắm sâu vào vùng tạm chiếm bị đánh bật ra. Một số cán bộ, chiến sĩ hi sinh, một số cơ sở bị phá vỡ, một số cán bộ trung kiên trong cơ sở bị bắt hoặc bị khủng bố. Trước tình hình đó, tháng 3 năm 1949, Đảng bộ Liên khu 5 tổ chức Đại hội lần thứ nhất và đi đến xác định: Tây Nguyên là chiến trường chính. Kiên quyết và mạnh dạn tiến sâu vào vùng sau lưng địch đẩy mạnh công tác dân vận, địch nguỵ vận, phát triển du kích chiến tranh [34, tr. 45]. Phương châm công tác: kiên nhẫn, thận trọng, vững chắc. Lấy vận động chính trị là chính, hết sức giữ bí mật, không rầm rộ, lộ liễu. Theo tư tưởng chỉ đạo đó, các địa phương đều tổ chức rút kinh nghiệm, giáo dục bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ củng cố, sắp xếp lại lực lượng, tiếp tục bám trụ địa bàn, đi sâu phát động quần chúng, xây dựng cơ sở, đẩy mạnh các hoạt động đánh địch mọi lúc có thể. Các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, các đội du kích xã, thôn lại bắt đầu những ngày chiến đấu gian khổ để xây dựng lực lượng, xây dựng cơ sở, giành dân, giành đất, phát triển du kích chiến tranh ở trong vùng địch tạm chiếm. 40

47 Nổi lên trong công tác phá tề, trừ gian, ta tiếp tục chủ trương vừa giáo dục đào tạo cán bộ cho cách mạng, vừa vạch rõ tội ác, bắt xử đối với bọn gian ác bị nhân dân căm ghét. Do đó, không những tranh thủ được sự đồng tình của đông đảo quần chúng, mà còn lôi kéo nhiều người đang theo địch làm tay sai trở về với nhân dân, hạn chế được sự đánh phá của địch. Cùng với đó, các hoạt động quân sự tiếp tục được đẩy mạnh. Bộ đội, nhân dân và dân quân du kích bẻ gãy nhiều cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch. Ngay trong tháng 1 năm 1949, tiểu đoàn 50 cùng lực lượng vũ trang địa phương Gia Lai phục kích trên đường 19, tiêu diệt hoàn toàn một đoàn xe quân sự của địch ở Đắk -pơ, phá huỷ 9 xe cơ giới. Tháng 6 và tháng 7 năm 1949, lực lượng địa phương ba tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk phối hợp với Trung đoàn chủ lực 210 mở một đợt hoạt động cách mạng trên phạm vi ba tỉnh, đánh thắng nhiều trận ở Đắk -pơ, trên Đường 19, Đắk Ven Đắk Vy, Đắk Van - Đắk Lây trên Đường 14, Cà Lúi Bà Lá, Bà Lá Ai Nui trên Đường số 7. Ngày 25 tháng 10 năm 1949, lực lượng vũ trang Đồng Nai Thượng tiêu diệt căn cứ dự trữ lực lượng và quân cụ của Pháp ở Lút-xe Khu du kích Mường Hoong, Mang Khênh, các làng chiến đấu xã Xóp Dùi, xã Hiếu tỉnh Kon Tum; Stơr, Ka-nác, Ya Hội ở tỉnh Gia Lai lần lượt được xây dựng và có phong trào du kích phát triển khá vững, có 21 làng với 3000 khẩu. Nhân dân tự tổ chức cắm chông, gài thò để bảo vệ xóm làng nương rẫy, nhân dân đã chiến đấu hàng trăm trận, diệt nhiều địch bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân. Cuối năm 1949, xã Ya Hội là xã đầu tiên được Liên khu uỷ 5 tuyên dương là xã kiểu mẫu [15, tr. 87] ở Tây Nguyên. Ở Đắk Lắk, cơ sở cách mạng phát triển rộng ở Đông Bắc M Đrak dọc hai bên bờ sông Ba từ Đèo Tân Á trở xuống và một số xã ở phía Đông Đường 14 của huyện Buôn Hồ. Khu căn cứ Đất Bằng ở Cheo Reo, khu căn cứ Đlei Ya ở phía Tây huyện Cheo Reo 25 km được mở rộng. Đội du kích Đlei Ya là đội du kích mạnh, được tổ chức chặt chẽ, đánh giặc giỏi, xây dựng và bảo 41

48 đảm đời sống nhân dân tốt, đã đóng góp nhiều lúa gạo, và thực phẩm cho cơ quan và lực lượng vũ trang tỉnh. Thực dân Pháp đã nhiều lần đưa quân càn quét lớn hòng xoá bỏ căn cứ Dlei Ya, nhưng chúng đều bị du kích cùng các lực lượng khác đánh trả quyết liệt, giữ vững được vùng căn cứ[14, tr ]. Các đội vũ trang tuyên truyền tỉnh Đồng Nai Thượng đã xây dựng được cơ sở trong nhiều buôn làng ở B Lao, Di Linh, Đại Ninh. Cơ sở nội thị Đà Lạt vẫn bám địa bàn, tiếp tục vận động nhân dân đấu tranh. Trước tình hình phong trào kháng chiến của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên ngày càng phát triển, từ giữa năm 1949, quân Pháp ở Tây Nguyên tiếp tục củng cố các đồn bốt bằng cách cải tiến, gấp rút xây dựng các tiểu đoàn sơn chiến và xúc tiến chuẩn bị thành lập Sư đoàn 4 Tây Nguyên, đồng thời thành lập các đơn vị biệt kích xuyên sơn (lực lượng là trung đội hoặc trung đội tăng cường, được trang bị gọn nhẹ, phần lớn là người dân tộc len lỏi trong rừng núi) để luồn sâu đánh phá cơ quan, kho tàng, gây rối loạn trong vùng căn cứ của ta. Cùng với việc bắt lính đôn quân, quân Pháp còn thực hiện ráo riết kế hoạch chiêu an dồn dân, tập trung các buôn làng ở khu vùng sâu, vùng xa về quanh các đồn bốt hoặc ven các trục giao thông. Những nơi không dồn được nhân dân thì tìm mọi cách đốt phá nhà cửa, bắn giết trâu bò, phá hoại sản xuất vừa buộc nhân dân lâm vào cảnh đói khổ phải chạy vào vùng chúng kiểm soát, vừa cắt đứt nguồn tiếp tế tại chỗ của ta. Thâm độc nhất là lợi dụng tâm lý thích súng của một số thanh niên người dân tộc, địch tiến hành vũ trang cho một số người, đẩy số người này từ chỗ thích có súng để săn bắn tới chỗ bắn giết cán bộ ta, từ đó dần dần đẩy số này thành các ổ vũ trang phản cách mạng - gọi là GOUM chống lại kháng chiến, kích động và khoét sâu chia rẽ dân tộc, chia rẽ Kinh - Thượng. Dồn dân, vũ trang cho dân, tổ chức các ổ vũ trang phản cách mạng là âm mưu lớn và thâm độc của địch thời kỳ này. Nhiều cán bộ gây cơ sở của ta đã bị 42

49 các ổ vũ trang phản động này giết hại. Nhiều tên cầm đầu các ổ vũ trang phản động trở thành tay sai gian ác. Một số vùng là cơ sở khá của ta nhưng đã bị địch lôi kéo thanh niên tổ chức được GOUM nên đã gây cho ta nhiều tổn thất, khó khăn trong việc giữ gìn và phát triển lực lượng cũng như phong trào kháng chiến. Đến đầu năm 1950, trước sự lớn mạnh không ngừng của quân và dân ta, để nắm chắc hơn nữa Tây Nguyên thực dân Pháp buộc Bảo Đại phải ký sắc lệnh bãi bỏ Uỷ ban liên bang để thành lập địa hạt hành chính cho Tây Nguyên gọi là Hoàng Triều Cương Thổ giao cho Bảo Đại giữ quyền tối cao. Nhằm hỗ trợ cho công tác gây dựng cơ sở phát triển du kích chiến tranh ở chiến trường chính Nam Tây Nguyên, tháng 7 năm 1950 Liên khu uỷ 5 đưa Trung đoàn chủ lực 803 lên phối hợp với lực lượng tại chỗ mở chiến dịch Nguyễn Huệ. Tuy không có những trận đánh tiêu diệt lớn, nhưng những hoạt động liên tục của các đơn vị vũ trang đã hộ trợ mạnh mẽ cho công tác gây cơ sở ở Tây Nguyên, góp phần đẩy mạnh các hoạt động du kích chiến tranh, đánh mạnh địch trên các mặt, từng bước đưa phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc khắp các tỉnh trên chiến trường Tây Nguyên phát triển. Nhờ đó, đến cuối năm 1950, phong trào du kích chiến tranh lan rộng ra khắp các xã ranh giới miền tây tỉnh Phú Yên và nối với khu tam giác M Đrak - Cheo Reo - Đông Buôn Hồ, phá vỡ một số ổ vũ trang phản động. Cơ sở chính trị được xây dựng khá rộng ở phía Nam Đường 21 của huyện M Đrak phía Tây huyện Buôn Hồ, ven Thị xã Buôn Ma Thuột, một số buôn ở Đắk Mil và Lak. Dân quân phát triển mạnh. Một số làng ở các huyện Cheo Reo, M Đrak đã thành lập được trung đội dân quân thoát ly. Các Trung đội này đã phối hợp chiến đấu với các đại đội độc lập. Hơn dân công và hàng trăm ngựa thồ đã vận chuyển hàng trăm tấn gạo, hàng chục tấn muối lên để lập kho dự trữ và tiếp tế cho đồng bào các dân tộc. Hơn 100 thiếu nhi các dân tộc ít người được đưa về đào tạo ở các trường văn hoá của tỉnh. 43

50 Ở Gia Kon 1, lực lượng gây cơ sở ở Bắc Kon Tum đã bám được vào vùng đồng bào dân tộc ở phía Tây Đường số 14, phá vỡ một số ổ vũ trang phản động, xây dựng được cơ sở ở 65 làng và bắt liên lạc với quân tình nguyện Việt Nam đang hoạt động ở Nam Lào. Dân quân du kích Đắk Tô đánh địch càn quét, giết 2 tên và làm bị thương 5 lính Âu Phi bằng tên nỏ và chông thò. Du kích huyện Kon Plong đánh địch trên Đường số 5 đoạn Kon Plong đi Kon Xalung thu hai súng trường, 1 súng ngắn. Ở phía Nam, tháng 5 năm 1950, bộ đội địa phương cùng du kích và nhân dân phá 27 cầu cống, cắt đứt đường An Khê đi Kan Nak, phục kích giết chết và làm bị thương 42 tên địch. Tháng 7 năm 1950, địch dùng lực lượng lớn bao vây làng Sitơr bắt dân dời về sát Đường 19. Chi bộ Đảng gồm 13 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân phá bỏ khu đồn về làng tiếp tục dựng làng chiến đấu. Từ tháng 9 trở đi, địch liên tiếp mở nhiều cuộc càn quét đánh phá vào Sitơr. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Núp, nhân dân Sitơr đã kiên cường chiến đấu, mặc dầu có nhiều lần phải di chuyển làng chiến đấu để chống sự vây ép của địch, nhưng nhân dân đã đoàn kết, chiến đấu kiên cường làm cho địch phải khiếp đảm. Trong khi đó, ở phía Tây An Khê, bộ đội địa phương và du kích địa phương liên tiếp đánh phá cầu Châu Bầu và tổ chức phục kích tiêu diệt nhiều tên địch. Ở hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng, cơ sở đã được khôi phục dọc theo Đường số 11 từ Krong pha đến Dran, Trại Mát, nhiều nơi đã thành lập được Ban Việt Minh xã. Lực lượng gây cơ sở đã bắt đầu bắt liên lạc được với số cán bộ đang hoạt động bí mật ở trong Đà Lạt. Đường hành lang từ căn cứ vào nội thị đã được nối lại. Đến giữa năm 1950, đã có trên 400 cơ sở cách mạng ở trong vùng ven Thị xã Đà Lạt. Ở phía Nam tỉnh, các đội vũ trang tuyên truyền, vũ trang công tác vừa diệt ác, vừa trừ gian, vừa vận động xây dựng cơ sở, từng bước đi sâu vào các vùng đồn điền và vùng đồng bào Mạ. 1 Ngày 15 tháng 5 năm 1950, theo Nghị định 77/NĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum hợp nhất thành một tỉnh lấy tên là tỉnh Gia Kon. Sau hiệp định Giơnevơ 1954, tỉnh Gia Kon lại tách ra thành hai tỉnh riêng. 44

51 Đến giữa năm 1950, đã xây dựng được khu căn cứ Chí Lai, Mang Yệu và cơ sở ở 6 xã và 50 buôn, trong đó có nhiều buôn là người dân tộc Mạ, một vùng mà từ trước tới nay thực dân Pháp chưa khuất phục được. Cùng với việc tích cực xây dựng cơ sở cách mạng, ở Đà Lạt, thị uỷ thực hiện chủ trương đẩy mạnh diệt ác trừ gian, kiên quyết trừng trị những tên gian ác có nhiều nợ máu với nhân dân tuy đã được vận động giáo dục thuyết phục nhưng không tiến bộ. Thi hành bản án của Uỷ ban kháng chiến hành chính, các chiến sĩ an ninh đã đột nhập vào thị xã trừng trị tên chỉ điểm viên Lê Đình Hiệu ngày 14 tháng 12 năm Tình hình đó làm cho bọn địch lo sợ, Đà Lạt không còn là hậu phương an toàn nhất của chúng nên chúng tìm mọi cách để ngăn chặn đối phó những hoạt động của ta. Phong trào cách mạng phát triển và lên cao, nội bộ địch lục đục, mâu thuẫn từ chỗ nói xấu đi đến bắn giết, thanh trừ lẫn nhau. Ngoài việc xây dựng cơ sở chính trị, phát triển chiến tranh du kích, nhiều địa phương đã chú trọng đến phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân vùng căn cứ. thực hiện ba nội dung lớn trong kinh tế kháng chiến: tiếp tế tại chỗ, phá hoại kinh tế địch, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến, 90% số xã ở vùng căn cứ Kon Tum đã thành lập các đội xung phong sản xuất, tổ văn công, đồng bào dân tộc thực hiện tốt hũ gạo tiết kiệm để nuôi quân. Trong năm 1950, tỉnh Gia Kon đã cung cấp cho nhân dân các dân tộc kg muối, nông cụ, 1.700m vải, kg gạo và thu mua cho nhân dân kg đậu xanh, hàng trăm lít mật ong và một số lâm sản khác[34, tr ]. Trong khi đó, sau thất bại trên tuyến biên Giới 1950, cũng như trước phong trào đấu tranh của nhân dân ta ngày càng lan rộng, thực dân Pháp rơi vào trạng thái hoang mang lúng túng. Tuy vậy, đội quân xâm lược nhà nghề vẫn còn đông quân và đang ra sức chấn chỉnh, tăng cường lực lượng củng cố thế bố trí, hòng có thể xoay chuyển tình thế, chuyển từ bị động sang chủ động 45

52 đối phó với ta. Để thực hiện được mục tiêu này, các nhà điều hành chiến tranh ở Đông Dương và Việt nam đã không từ một thủ đoạn thâm độc nào để có thể sớm bình định, chấm dứt tình trạng không mấy sáng sủa, lấy lại uy tín cho đội quân xâm lược nhà nghề. Một trong những âm mưu thực dân Pháp đang thực hiện có hiệu quả là chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt. Để đẩy nhanh và tận dụng triệt để chính sách này, thực dân Pháp đã ráo riết triển khai thực hiện mà ở Tây Nguyên là một điển hình. Bằng nhiều biện pháp, thực dân Pháp ra sức củng cố đồn bốt, đẩy nhanh tốc độ đôn quân bắt lính, xây dựng các tiểu đoàn sơn chiến, thành lập các đơn vị biệt kích xuyên sơn để đánh phá các cơ quan, kho tàng, gây rối loạn trong vùng căn cứ của ta. Đi đôi với đó, ráo riết thực hiện kế hoạch chiêu an dồn dân, tập trung các buôn làng ở vùng sâu, vùng xa về quanh đồn bốt hoặc trục đường giao thông để dễ dàng kiểm soát; tiếp tục thực hiện âm mưu thâm độc xây dựng nhiều ổ vũ trang phản động GOUM nhằm khoét sâu chia rẽ dân tộc, chia rẽ giữa người Kinh và người Thượng. Tính đến cuối năm 1950, dựa vào các ổ vũ trang phản động, thực dân Pháp đã giết hại nhiều cán bộ gây cơ sở của ta, chúng biến những tên cầm đầu thành những tên tay sai khét tiếng giết người không gớm tay ; nhiều vùng là cơ sở của ta nhưng đã bị địch lôi kéo thanh niên tổ chức được GOUM gây cho ta không ít khó khăn trong việc gây dựng cơ sở. Trong báo cáo của đồng chí Nguyễn Chánh Bí thư Liên khu uỷ 5 gửi Trung ương có đoạn: Thành công của địch không phải là xây dựng được lực lượng chính quy, mà là phát triển được các ổ GOUM chống lại ta [132, tr. 160]. Điều đó có thể thấy, đến thời điểm này thực dân Pháp đã thực hiện có hiệu quả chính sách dùng người Việt đánh người Việt. Đi đôi với các chính sách thâm độc trên, thực dân Pháp còn ra sức tuyên truyền cho cái gọi độc lập giả hiệu của chính phủ bù nhìn Bảo Đại; dùng bọn Việt gian bán nước và bọn lưu manh côn đồ để củng cố nguỵ quân, 46

53 nguỵ quyền, tổ chức ra các đảng phái phản động nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Tuy nhiên, những âm mưu thủ đoạn đó của thực dân Pháp chỉ lôi kéo được một bộ phận, đại đa số đồng bào vẫn hướng về cách mạng, tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều đó làm cho phong trào chiến tranh du kích ở Tây Nguyên không ngừng được củng cố và phát triển. Tính đến cuối năm 1950, đồng bào Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, mà trực tiếp là Liên khu uỷ 5 và Đảng bộ các tỉnh, phong trào chiến tranh du kích đã lan rộng khắp ra các xã giáp ranh với miền Tây tỉnh Phú Yên và nối liền với khu tam giác M Đrak Cheo Reo Đông Buôn Hồ, phá vỡ một số ổ vũ trang phản động, giữ vững cơ sở chính trị. Như vậy, có thể thấy trong 2 năm , dưới sự lãnh đạo và chỉ đạo của Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Liên khu uỷ 5 và các đảng bộ địa phương, phong trào chiến tranh du kích phát triển khắp chiến trường Tây Nguyên, cơ sở cách mạng được củng cố và phát triển, nhiều khu căn cứ du kích, làng chiến đấu mọc lên, nhiều cơ sở cách mạng được khôi phục làm cho cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên từng bước thu được nhiều kết quả, góp phần bước đầu ngăn chặn được âm mưu chia rẽ Kinh - Thượng và chính sách chia để trị cũng như âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của chúng. Đây cũng là giai đoạn mà chúng ta rút ra được nhiều bài học quý giá trong đẩy mạnh chiến tranh du kích trên chiến trường Tây Nguyên, là cơ sở để Trung ương Đảng lãnh đạo, chỉ đạo phát triển chiến tranh du kích hơn nữa trong giai đoạn cách mạng tiếp theo. Tiểu kết chương Xuất phát từ vị trí chiến lược Tây Nguyên, ngay sau khi nổ súng đánh chiếm Sài Gòn chính thức xâm lược nước ta một lần nữa vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, thì tháng 11 năm 1945, thực dân Pháp đã đánh lên Tây Nguyên 47

54 làm bàn đạp để đánh chiếm xuống các tỉnh đồng bằng. Chiếm xong Tây Nguyên, thực dân Pháp đã nhanh chóng thực hiện các âm mưu thâm độc để chia rẽ cách mạng, chia rẽ Kinh - Thượng, khủng bố phong trào đấu tranh của nhân dân các tỉnh Tây Nguyên. Ngay sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Tây Nguyên, do đặc thù nơi đây là địa bàn mà khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, một số nơi chính quyền cơ sở chưa được thiết lập, cơ sở cách mạng còn non yếu, nhiều nơi chưa có chi bộ đảng lãnh đạo... Nắm bắt được tình hình này, Trung ương Đảng đã kịp thời chỉ đạo Xứ uỷ Nam Trung bộ nhanh chóng ổn định mọi mặt, tổ chức chấn chỉnh lực lượng, xây dựng cơ sở, chuẩn bị mọi mặt cho chiến trường Tây Nguyên đánh địch ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến. Quán triệt sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ Đảng, quân và dân các tỉnh Tây Nguyên với tinh thần cách mạng quật khởi, đã chung lưng đấu cật cùng với nhân dân cả nước bước vào chiến đấu, nhanh chóng tổ chức lực lượng, bám trụ và từng bước ngăn chặn địch. Trên cơ sở đường lối chính trị, quân sự của Trung ương Đảng, các cấp bộ Đảng ở Tây Nguyên đã triển khai có hiệu quả, góp phần ổn định tổ chức, xây dựng cơ sở, từng bước hình thành và mở rộng chiến tranh du kích đánh địch rộng khắp, bước đầu thu được kết quả, có ý nghĩa quan trọng tác động đến quá trình phát triển của cách mạng cả nước nói chung, ở Tây Nguyên nói riêng. Các hoạt động chiến tranh du kích ở Tây Nguyên giai đoạn đã tạo dựng được cho Tây Nguyên một nét đặc trưng riêng về tổ chức lực lượng, xây dựng cơ sở; bước đầu triển khai có hiệu quả chiến tranh chính quy kết hợp với chiến tranh du kích trên chiến trường rừng núi, là cơ sở để quân và dân Tây Nguyên đối phó với những âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, đồng thời có những biện pháp lãnh đạo, tổ chức chiến tranh du kích trong giai đoạn tiếp theo. 48

55 Chương 2 TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO CHIẾN TRANH DU KÍCH, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC ( ) 2.1. Lãnh đạo xây dựng lực lượng và đẩy mạnh chiến tranh du kích trong những năm Chỉ đạo tăng cường xây dựng lực lượng và đẩy mạnh chiến tranh du kích, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới Sau thất bại trên tuyến biên giới Thu Đông 1950, ngày 6 tháng 12 năm 1950 Chính phủ Pháp cử tướng Đờ Lát đơ Tátxinhi (De Lattre de Tassiny), Tư lệnh lục quân khối Tây Âu, sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp, kiêm Cao uỷ Pháp ở Đông Dương hòng tìm kiếm một thắng lợi về mặt quân sự, lấy lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường. Mặc dù bị đẩy vào thế bị động đối phó trên các chiến trường, song được Mỹ viện trợ, thực dân Pháp đẩy mạnh chiến tranh tổng lực; xây dựng lực lượng cơ động chiến lược, phát triển nguỵ binh với quy mô lớn để bổ sung vào quân đội viễn chinh Pháp, xây dựng tuyến phòng ngự bao quanh trung du và đồng bằng Bắc Bộ; bình định vùng tạm chiếm và vùng du kích, phá hoại vùng căn cứ hậu phương và chuẩn bị tiến công ra vùng tự do. Trước tình hình đó, để phá âm mưu của thực dân Pháp, đưa hoạt động kháng chiến ở vùng sau lưng địch, nhất là chiến tranh du kích vượt khó khăn vươn lên, từ ngày 27 tháng 9 đến 5 tháng 10 năm 1951, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp và nhấn mạnh: công tác vùng tạm chiếm và vùng du kích là một công tác quan trọng. Đồng thời, Hội nghị đề ra nhiệm vụ, phương châm hoạt động nhằm vận động quần chúng đấu tranh, vận động binh lính địch, thực hiện chiến tranh du kích[54, tr ]. 49

56 Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng có tác dụng chỉ đạo sự chuyển hướng mạnh mẽ công tác ở vùng sau lưng địch, đẩy mạnh đấu tranh kinh tế và chính trị, phối hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy[81, tr. 106]. Chấp hành Nghị quyết của Trung ương Đảng, để hoạt động phối hợp tác chiến giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy được nhịp nhàng, phát huy thế thắng lợi của chiến dịch Biên Giới, Tổng Quân uỷ quyết định tổ chức mở liên tiếp ba chiến dịch đánh vào phòng tuyến quân địch ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ: Chiến dịch Trần Hưng Đạo ( ), Chiến dịch Hoàng Hoa Thám ( ) (hay Chiến dịch Đường số 18), Chiến dịch Quang Trung ( ) (còn gọi là Chiến dịch Hà Nam Ninh). Phối hợp với các chiến dịch trên, nhân dân và các lực lượng vũ trang cả nước đẩy mạnh đấu tranh chống, phá âm mưu bình định gấp rút của địch... Ba chiến dịch đó đã tiêu diệt được hơn một vạn tên địch, phá huỷ nhiều vị trí và tháp canh, giải phóng một phần đất đai, tạo điều kiện để phát triển chiến tranh du kích ở một số địa phương. Song, nhìn chung cả ba chiến dịch trên đều không đạt được mục đích chiến lược và lực lượng của ta bị tổn thất không nhỏ. Trong khi đó, để củng cố thế phòng ngự, tăng cường lực lượng và đẩy mạnh bình định, tướng Đờ Lát đã chọn Hoà Bình làm điểm quyết chiến, với hi vọng có thể ngăn chặn đường giao thông từ Bắc và Nam, buộc chủ lực ta phải tham chiến, qua đó giành một thắng lợi quân sự để ổn định tinh thần binh lính, lập lại Xứ Mường tự trị. Từ ngày 9 đến ngày 14 tháng 11 năm 1951, Đờ Lát đã mở cuộc hành quân đánh chiếm Hoà Bình. Cuộc tiến công quy mô lớn đánh vào Hòa Bình tỉnh tự do duy nhất ở Liên khu 3 lúc bấy giờ đã gây cho ta nhiều khó khăn mới, song đây cũng là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch, vì nếu như Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh [95, tr. 341]. Nắm bắt cơ hội này, quân ta mở chiến dịch Hoà Bình, đánh cả mặt trận chính diện và sau lưng địch. Sau hơn hai tháng chiến đấu ( ), quân ta đã diệt khoảng tên địch 50

57 trên cả hai mặt trận, ta giải phóng khoảng 2 triệu dân; kết quả bình định của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ trong năm 1951 bị phá vỡ phần lớn. Ngay từ đầu năm 1952, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị gửi các Liên khu uỷ, Tỉnh uỷ và Thành uỷ về Phát triển và củng cố các vùng du kích và căn cứ du kích, tích cực chuẩn bị chống giặc càn quét [55, tr. 15], nêu rõ: giặc Pháp đang tìm mọi cách điều động bộ đội thực hiện kế hoạch càn quét vùng du kích và căn cứ du kích của ta [55, tr. 16]. Do vậy, phương châm lúc này là phải luôn tỉnh táo và tranh thủ thời gian tích cực thực hiện kế hoạch phát triển và củng cố vùng du kích và căn cứ du kích, sẵn sàng chống lại tất cả mọi cuộc càn quét lớn nhỏ của địch mà bất cứ lúc nào cũng có thể xẩy ra [55, tr. 23]. Đồng thời, Ban Bí thư yêu cầu các liên khu uỷ và tỉnh phải nghiên cứu đặt kế hoạch thực hiện cụ thể và theo sự cần thiết của từng nơi từng lúc mà phổ biến những điều phải làm ngay [55, tr. 23]. Cuối năm 1952, thực hiện chủ trương: tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, ta mở chiến dịch Tây Bắc ( ). Sau gần hai tháng chiến đấu, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu quân địch, mở rộng vùng giải phóng nối liền với căn cứ địa Việt Bắc. Diễn biến chung của tình hình cả nước đã tác động không nhỏ đến tình hình các tỉnh Tây Nguyên. Ngay từ đầu năm 1951, để nắm chắc hơn nữa địa bàn Tây Nguyên, thực dân Pháp tiếp tục thực hiện nhiều âm mưu, thâm độc hơn khi chúng cho tách Tây Nguyên ra khỏi vùng chiến thuật Nam phần Trung Bộ để thành lập Quân khu Tây Nguyên trực thuộc Bộ chỉ huy quân viễn chính Pháp ở Đông Dương, hòng dễ dàng kiểm soát và khống chế mọi hoạt động ở dải đất chiến lược này. Dưới Quân khu Tây Nguyên gồm hai tiểu khu là Đồng Nai Thượng và Buôn Ma Thuột và một biệt khu Kon Tum. Để nhằm dập tắt phong trào chiến tranh du kích đang phát triển rộng khắp của đồng bào các tỉnh Tây Nguyên, thực dân Pháp ra sức củng cố đồn bốt, đẩy nhanh tốc độ đôn quân bắt lính, nhất là tiếp tục thực hiện âm mưu xây dựng nhiều ổ vũ trang phản động (GOUM). 51

58 Chỉ tính riêng ở Giai Lai, đầu năm 1951 địch đã tổ chức được GOUM trên nhiều vùng; vùng Nam Kon Plong địch đã tổ chức ở các làng Kon Len, Konvon, Kon Lôc (xã Đắk Krông) xuống đến Konplo (Vĩnh Thạnh); tổ chức GOUM được trang bị nhiều súng, địch biến nhiều tên tham tiền thành những kẻ gian ác khét tiếng, chuyên bắt cán bộ cơ sở của ta (chủ yếu là cán bộ người Kinh) giết, cắt tai nộp cho Pháp để lấy tiền bằng muối 1 [15, tr ]. Những hành động điên cuồng trên của thực dân Pháp đã gây cho phong trào đấu tranh của nhân dân các tỉnh Tây Nguyên không ít những khó khăn trong giai đoạn này, đặc biệt là các ổ vũ trang phản động (GOUM) của thực dân Pháp dựng lên đã tỏ ra có hiệu quả trong chính sách dùng người Việt trị người Việt. Trước tình hình này, thực hiện các chủ trương của Trung ương Đảng, ngay trong năm 1951, để chỉ đạo chặt chẽ các tỉnh Tây Nguyên, Liên khu uỷ 5 đã chủ trương: Mở rộng và xây dựng cơ sở địch hậu, phá chính sách bình định, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch[34, tr. 55]. Cũng trong thời gian này, trước tình trạng để mất đất, mất dân diễn ra ở nhiều địa phương kéo dài do sự lúng túng của các cấp trong việc chỉ đạo chống địch càn quét, phá kế hoạch dồn dân của địch, Liên khu uỷ 5 đã căn cứ vào Nghị quyết về công tác vùng sau lưng địch của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 9 năm 1951 của Đảng để chỉ ra những thiếu sót vừa tả khuynh, vừa hữu khuynh của một số địa phương ở Tây Nguyên trong việc phá kế hoạch phát triển các ổ vũ trang phản động của địch. Đồng thời, xác định cụ thể nơi nào là vùng du kích, nơi nào là vùng địch tạm chiếm của từng tỉnh và hướng dẫn thực hiện chủ trương, biện pháp hoạt động cho từng vùng cụ thể. Trên tinh thần đó, Ban cán sự các tỉnh Tây Nguyên đã họp bàn và thống nhất đánh giá lại tình hình, bàn kế hoạch tiến hành thực hiện chủ trương của Liên khu cho phù hợp với địa bàn hoạt động của mỗi tỉnh. 1 Năm 1951, chúng bắt cắt tai đồng chí Đoan (công tác ở làng Đé Dơng tih (lớn) và cắt tai đồng chí Long (công tác ở làng Đê Tơnăng Săng (thuộc huyện Kon ChRo hiện nay). 52

59 Sang năm 1952, để kịp thời chỉ đạo phong trào kháng chiến ở Tây Nguyên phát triển, phù hợp với đặc điểm tình hình mới, Bộ Tổng Tư lệnh cũng chủ trương: Chiến trường Tây Nguyên không những là một chiến trường có nhiệm vụ xây dựng cơ sở, phát động chiến tranh du kích mà còn là hướng hoạt động tốt cho chủ lực; vì địa thế ở đó là rừng núi, địch bố trí thành tuyến dài và điểm nhỏ đột xuất từ Buôn Ma Thuột đến Kon Tum, từ Pleiku đến An Khê. Mặc dù vận tải tiếp tế khó khăn, chúng ta cần khắc phục để lợi dụng những thuận lợi trên đây mà đẩy mạnh tác chiến tiêu diệt sinh lực địch; có thể dùng từng đại đội mạnh, từng tiểu đoàn tập trung mà hoạt động; khi có điều kiện thuận lợi thì hãy dùng trung đoàn tập trung [102, tr. 380]. Những chỉ đạo kịp thời đó đã được cấp uỷ các cấp vận dụng, lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động vừa xây dựng, vừa chiến đấu, làm cơ sở để đẩy mạnh chiến tranh du kích trong toàn chiến trường Tây Nguyên. Tỉnh Gia Kon mở hội nghị lần thứ 3 (9.1951) chủ trương: ra sức động viên mọi khả năng của nhân dân vào việc củng cố và phát triển cơ sở, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch nhằm trọng tâm là củng cố [60, tr. 197]. Ở Đắk Lắk, Ban cán sự Đảng tỉnh cũng mở hội nghị cán bộ quân dân chính Đảng ( ) chủ trương: đối với vùng tạm chiếm lấy xây dựng cơ sở, đấu tranh chính trị, kinh tế làm nội dung chính; vùng du kích lấy đấu tranh vũ trang làm chính, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị và kinh tế. Giữa hai vùng không có ranh giới mà có thể chuyển hóa lẫn nhau [1, tr. 235]. Ở Lâm Đồng 1, sau khi hợp nhất, Ban cán sự Đảng xác định: Lâm Đồng là chiến trường chính của Cực Nam, nhưng là chiến trường xây dựng cơ sở [61, tr. 117]. Như vậy, chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5, Ban cán sự Đảng các địa phương ở Tây Nguyên đã kịp thời quán triệt, triển khai tích cực, phù hợp với tình hình của 1 Ngày 22 tháng 2 năm 1951, Chính phủ nước Việt Nam DCCH ban hành Nghị định số 73-TTg hợp nhất hai tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. 53

60 từng địa phương, góp phần đẩy mạnh xây dựng cơ sở, xây dựng lực lượng, đáp ứng tình hình mới Quân và dân Tây Nguyên đẩy mạnh chiến tranh du kích, góp phần hạn chế chính sách dùng người Việt đánh người Việt Trước sự vùng lên mạnh mẽ của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, sang năm 1951, thực dân Pháp phải tăng cường lực lượng để đối phó. Chúng liên tiếp mở ra các cuộc hành quân càn quét, đánh phá vào các khu căn cứ, đặc biệt là những vùng ta mới mở ra. Các đội biệt kích xuyên sơn tìm cách đánh vào các cơ quan, các kho dự trữ của ta. Cùng với đó, thực dân Pháp tiếp tục thực hiện âm mưu đẩy mạnh việc dồn dân, xây dựng nhiều khu đồn lớn để khống chế nhân dân. Riêng khu đồn Đắk Bớt ở phía Nam An Khê đã dồn được dân. Ở một số địa phương khác, chúng còn tổ chức ra hội phản động A tum, kết hợp với GOUM để tập hợp lực lượng phản động chống lại kháng chiến của nhân dân ta. Những âm mưu xảo quyệt và hết sức tinh vi của thực dân Pháp đã làm một số nơi ở Tây Nguyên đối phó lại còn thiếu nhạy bén, bị kẻ địch lợi dụng, tình trạng mất đất, mất dân diễn ra ngày một nhiều, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển chiến tranh du kích trên các địa bàn. Giữa lúc quân và dân các tỉnh Tây Nguyên đang ra sức đối phó với các âm mưu của địch, tháng 7 năm 1951, Đảng bộ Liên khu 5 tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ Liên khu lần thứ hai. Đại hội đã đánh giá tình hình, xác định các nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo. Quán triệt và thực hiện chủ trương của Liên khu uỷ, Ban cán sự các tỉnh Tây Nguyên đã họp bàn và thống nhất đánh giá lại tình hình, bàn kế hoạch tiến hành thực hiện chủ trương của Liên khu. Thông qua những chủ trương, biện pháp phù hợp với tình hình địa bàn cụ thể đã làm cho cán bộ, đảng viên, các cấp chính quyền, đoàn thể, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức kiên cường bám 54

61 trụ vào buôn rẫy, bắt nối cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới, xây dựng dân quân du kích, tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước tới đồng bào, đồng thời vạch trần âm mưu thủ đoạn độc ác của kẻ đi xâm lược. Nhờ vậy, nhiều địa phương đã tổ chức được Hội đánh Tây, Hội ăn thề chống Pháp ; mở hội nghị già làng đã thu hút được đông đảo đồng bào nhân dân và già làng tham dự, qua đó giáo dục lòng yêu nước, tinh thần dân tộc cho đồng bào, phát động tinh thần đánh Pháp đuổi gian, xây dựng các làng chiến đấu. Nổi bật trong giai đoạn này, địa bàn các tỉnh Tây Nguyên đã xây dựng và phát triển các làng chiến đấu liên hoàn, trở thành các căn cứ du kích vững chắc, là nhân tố quan trọng làm hạt nhân thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở các địa phương. Trên cơ sở đó, một loạt các khu căn cứ đã ra đời: - Ở vùng căn cứ du kích Stơr lan ra 9 làng quanh phía Tây và Bắc giáp vùng Bơ Nâm. - Căn cứ Ya Hội phát triển ra vùng Djama, ĐêSơRơn, tiến lên vùng Đắk Bớt. - Vùng Kon Nừng lan ra xã Đắk Krong, Đắkpne và hoạt động xuống xã Kơrem, Kon Blo. Cùng với đó, bộ đội chủ lực Liên khu đã mở rộng hoạt động ở Đông Bắc Kon Tum, bức rút nhiều vị trí của địch trong tháng 8 năm 1951, tạo ra một thắng lợi quan trọng về quân sự, là cơ sở thuận lợi để đẩy mạnh chiến tranh du kích ở Bắc Tây Nguyên. Nhân dân bị địch dồn vào các khu tập trung đã kiên quyết đấu tranh đòi về làng cũ làm ăn sinh sống. Điển hình là cuộc phá khu đồn của hơn dân ở Đắk Bớt. Cơ sở cách mạng ở Bắc Tây Nguyên phát triển đều khắp Đông và Tây đường 14, trong khu vực giữa hai thị xã Pleiku và Kon Tum và nhiều buôn dọc theo biên giới với Campuchia, bộ đội địa phương và dân quân du kích Đắkglu, Đắk Tô đánh giao thông, vây đồn bắn tỉa buộc quân Pháp có lúc phải đưa cả máy bay tiếp tế cho các đồn bốt ở Đắk Pét, Đắk Bung. 55

62 Trên hướng đường 19, dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương liên tục tổ chức những trận địa phục kích, diệt các đoàn xe vận tải, bao vây, bức rút các cứ điểm Tô Năng, Plei Bon. Đội du kích làng Đắk Bril suốt một năm bị địch bao vây đã kiên cường bám núi Kông Chiêng đánh địch bảo vệ cơ sở. Làng Djama Mơn lúc đầu có 90 hộ gia đình, qua mấy năm bám trụ kiên cường chiến đấu chỉ còn lại 29 người vẫn tiếp tục hoạt động, kiên trì đấu tranh với địch, giữ làng cho đến ngày thắng lợi cuối cùng. Điển hình cho tinh thần kiên cường, dũng cảm và tài trí của đồng bào là tấm gương của đồng chí Bok Wừa, người đội trưởng du kích làng Đe Đoa xã Đắk Đoa, với tinh thần cách mạng, đồng chí đã kiên trì vận động quần chúng xây dựng cơ sở, chỉ huy đội du kích của mình tiêu diệt tên Wýt khét tiếng gian ác ở đồn Đắk Đoa, đồng thời cảnh cáo những tên gian ác khác. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn hành hạ dã man, nhưng không làm lay chuyển ý chí kiên cường của một người đội trưởng du kích. Trước khi hi sinh, Bok Wừa còn dùng mưu lừa địch vào bãi chông, thò mà ta đã chuẩn bị sẵn, làm hàng chục tên chết và bị thương. Tháng 5 năm 1956, đồng chí được Chính phủ truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Tính đến cuối năm 1951, riêng tỉnh Gia Kon đã xây dựng được du kích, nhiều huyện đã xây dựng được trung đội du kích tập trung. Cá biệt huyện Đắk Bớt có 2 trung đội tập trung trang bị 50 súng. Cả năm vận động được 440 lính bỏ hàng ngũ của địch mang súng về nộp cho cách mạng 39 khẩu súng trường và tiểu liên. Tại Đắk Lắk ngay từ đầu năm 1951, địch tập trung lực lượng đánh phá trên toàn tỉnh, trọng điểm là hai huyện Cheo Reo và M Đrak để chặn hành lang của ta, cho quân lùng sục vào buôn làng để phá cơ sở du kích, tăng cường lực lượng kiểm soát và bảo vệ các đường giao thông, lập lại nguỵ quyền ở những nơi đã đánh bật được lực lượng ta, cưỡng ép dồn dân, bắt trâu bò về vùng chúng kiểm soát. Để làm thất bại các âm mưu của địch, các đội vũ 56

63 trang tuyên truyền, đại đội độc lập chia thành từng tổ, tiểu đội phối hợp với du kích và nhân dân bám đánh địch suốt đêm ngày. Trên hướng đường số 7, du kích Đất Bằng cùng với tiểu đội cơ sở dùng địa lôi đánh địch đi càn ở ngay cạnh đồn Me Phu giết và làm bị thương 23 tên. Du kích các xã Ea Bin, Ea Knốp, Ea Troul dùng địa lôi đánh địch trên đường 21 diệt nhiều tên địch. Du kích Buôn Hồ đánh địa lôi trên đường số 14 phá huỷ 2 xe, diệt một tiểu đội Âu Phi trong đó có 1 tên quan ba. Nhiều cầu cống trên các đường 7, 14, 21 bị du kích phá hoại. Các tiểu đội cơ sở quấy rối địch ở đồn Ai Riêng, đột nhập đánh địch ở đồn điền Me Van thu 2 súng, một số thuốc tây và 20 con bò; đánh địch càn quét vào buôn Ya Wam diệt 1 tiểu đội. Ngoài nhiệm vụ phối hợp với du kích đánh địch càn quét, các đại đội độc lập còn bảo vệ cho các đoàn dân công đưa được 75 tấn gạo, 1 tấn muối, 1 tấn lúa giống và nhiều nông cụ lên tiếp tế cho các đơn vị đang hoạt động và các vùng cơ sở ở Lăk và Mil. Do bị địch đánh phá ác liệt nên một số vùng mới mở ra ở Lắk, Đăk Mil, Tây Buôn Hồ bị vỡ hoặc mất liên lạc, nhưng khu tam giác du kích Cheo Reo Buôn Hồ - M Đrak vẫn giữ vững và phát triển. Tổng số du kích trong khu vực này đã lên đến gần Tại Lâm Đồng, sau khi hợp nhất tỉnh, ban cán sự đã tổng kết kinh nghiệm xây dựng cơ sở những năm qua và cụ thể hoá chỉ thị của Liên khu uỷ với thực tiễn địa phương. Do đó, trong năm 1951, phong trào kháng chiến ở Lâm Đồng đã có bước phát triển rõ nét. Cơ sở hoạt động bí mật được tổ chức rộng khắp, thanh niên học sinh và công nhân có phong trào thoát ly ra chiến khu gia nhập bộ đội, ở trong và ven thị xã Đà Lạt đã lên đến gần Cảm tử đội Đà Lạt nhiều lần đột nhập vào nội thị để diệt ác trừ gian. Trong đó có những trận diệt một số tên mật thám khét tiếng gian ác (tháng 2 năm 1951 diệt tên Hành mật thám ác ôn bị diệt ở chùa Sư Nữ (Trại Hầm) và trận diệt tên Haaz mật thám người Pháp ngay tại biệt thự Hoa Hồng giữa ban ngày ngày 11 tháng 5 năm 1951), gây chấn động lớn trong hàng ngũ địch. Để trả thù và 57

64 trấn áp tinh thần binh lính địch, ngay trong ngày 11 tháng 5, thực dân Pháp cho khủng bố bắt bớ tràn lan. Điển hình cho tội ác giã man đó là đưa một lúc 20 tù chính trị đang bị giam cầm tại nhà lao Đà Lạt đi xử bắn tại một khu rừng gần sân bay Cam Ly đã gây một làm sóng đấu tranh mạnh mẽ trong nhân dân, hàng ngàn người dân Đà Lạt đã xuống đường biểu tình lên án hành động giã man và hèn mạt của địch, đòi trừng trị những tên gây tội ác. Trước tình hình đó, địch buộc phải dừng đàn áp bắt bớ và đưa những tên bắn giết tù chính trị lên Buôn Ma Thuột. Tiếp đến, ngày 16 tháng 5, đội cảm tử tiếp tục hoạt động mạnh mẽ, diệt tên Hương Kiểm làng Phước Thành. Ngày 25 tháng 5, diệt tên mật thám khét tiếng Hồ Minh trước rạp Lang-Biang. Ngày 14 tháng 6 năm 1951 trừng tên tên mật thám khét tiếng Nguyễn văn Thơm (tức Sáu Thơm) và bắn bị thương một tên lính Pháp trước chợ Đà Lạt. Những ngày sau đó, các chiến sĩ đội cảm tử còn diệt nhiều tên ác ôn khác, gây một tiếng vang lớn, cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân, răn đe những tên ác ôn khác. Để đối phó với phong trào cách mạng đang phát triển mạnh ở Đà Lạt, địch vội điều động 1 tiểu đoàn Com-măng-đô do tên thiếu tá Pháp chỉ huy từ Sài Gòn lên Đà Lạt. Từ tháng 7 năm 1951, thực dân Pháp ra sức đối phó và tăng cường các hoạt động ở Đà Lạt và các huyện lân cận. Vùng ngoại ô thị xã Đà Lạt, địch đóng thêm đồn bốt ở Xuân An, Tân Lạc, Trại Mát, Đa Lợi, Trại Hầm mỗi nơi có từ 1 đến 2 tiểu đội chốt giữ. Tính từ tháng 7 đến tháng 9, mỗi tháng có từ 5 đến 7 cuộc hành quân càn quét và chiến khu, có lần chúng huy động 1 tiểu đoàn càn quét suốt 5 ngày liền ở vùng Xuân Thành, Tân Lạc. Ở nội thị, địch nặng về các hoạt động chính trị, hệ thống thông tin tuyên truyền đẩy mạnh xuyên tạc chủ trương đường lối kháng chiến của Đảng, đề cao các bù nhìn, tuyên truyền viện trợ Mỹ. Đến những tháng cuối năm, địch càng càn quét giữ dội hơn, với lực lượng được điều từ Buôn Ma Thuột, từ Dran, Di Linh lên phối hợp với lực lượng ở thị xã Đà Lạt, tổ chức càn quét 58

65 vào vùng Nam ban Hoạt, Ri-ông-tô, Phi-sua Thực hiện âm mưu bao vây và cô lập kháng chiến, địch tiếp tục dồn làng từ Nam Ban, Chil Gia về Tà Nung, làng Chil-phi-sua, Ban Thiên về K Du, làng Ri-ông-tô và Phi-sua về Cohia, làng Chil-Kút về Phi Đang. Trước tình hình trên, Ban cán sự cực Nam triển khai các hoạt động. Đối với tỉnh Lâm Đồng, Ban Cán sự Cực Nam đưa ra chủ trương: Tích cực xây dựng Lâm Đồng, phải xem đây là nhiệm vụ chính và trọng tâm của Ban cán sự [61, tr. 109]. Nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn trước mắt: đẩy mạnh sản xuất ở các vùng bàn đạp và nội địa, đặc biệt chú trọng hướng chính là vùng Tây Bắc và vùng La Ba. Lực lượng vũ trang phải coi nhiệm vụ sản xuất như nhiệm vụ tác chiến. Tích cực vận động đồng bào dân tộc ít người lao động, sản xuất, đồng thời phải giúp đỡ công cụ và hướng dẫn việc cải tiến kỹ thuật canh tác. Đồng thời, tích cực xây dựng cơ sở, nâng cao tinh thần cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt chú ý đào hầm bí mật để hoạt động và chỉ đạo địch hậu, phải bảo tồn cơ sở cách mạng ngày càng lớn mạnh [61, tr ]. Với quyết tâm khắc phục khó khăn và nỗ lực phấn đấu, đẩy mạnh vừa sản xuất vừa xây dựng phong trào cách mạng. Đà Lạt đã trở thành nơi không còn là hậu phương an toàn của địch nữa; các cơ sở cách mạng đã phát triện rộng khắp, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Ở huyện Chiến Đấu, Di Linh, nhiều nơi đã thành lập được chính quyền cách mạng và đoàn thể, xây dựng lực lượng dân quân du kích, các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập miền Bắc Lâm Đồng thường xuyên chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ chiến sĩ, lực lượng đội cảm tử Đà Lạt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được nhân dân tin tưởng, yêu mến và cảm phục. Trong thời gian này, công tác xây dựng và phát triển Đảng cũng được chú trọng, vai trò của chi bộ, đảng viên được phát huy và thực sự làm nòng cốt cho phong trào. Năm 1952, Ban cán sự Lâm Đồng một mặt phát huy những cố gắng và tiến bộ đạt được, mặt khác sửa chữa một số khuyết 59

66 điểm như hoạt động bề nổi, chưa nắm vững phương châm tổ chức và hoạt động tring vùng địch tạm chiếm, nhất là ở Đà Lạt cơ sở ta đã được xây dựng ở vùng đồng bào dân tộc ở Tây Bắc Đà Lạt và phát triển dần về hướng Bắc tiếp giáp với Đắk Lắk. Sang năm 1952, thực dân Pháp tiếp tục củng cố Bắc Tây Nguyên với chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt theo phương châm ăn chắc lấn dần, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đánh phá càn quét dồn dân, phát triển các ổ vũ trang phản động, mở rộng mạng lưới gián điệp, phát triển A tum, một tổ chức phản động do Pháp nắm một số tay sai là chánh tổng, chủ làng lợi dụng phong tục tập quán vùng dân tộc Bana tuyên truyền lừa bịp quần chúng dưới khẩu hiệu Yà Yang (trời) để chia rẽ đồng bào Kinh - Thượng được Pháp lợi dung từ năm Tổ chức này hoạt động đi đôi với các ổ vũ trang phản động GOUM, mục đích chính nhằm tập hợp lực lượng phản động địa phương chống phá kháng chiến. Đến tháng 9 năm 1952, thực dân Pháp huy động quân đánh vào 3 xã Nam, Bắc và Bah Mâu thuộc khu căn cứ trung tâm của huyện An Khê nhằm tiêu diệt cơ quan lãnh đạo, khủng bố, uy hiếp và phá hoại mùa màng, cướp bóc tài sản của nhân dân. Sau đó, địch lại tập trung lực lượng càn vào khu vực Yang Bắc, Ya Hội, căn cứ của huyện Đắk Bớt. Mặc dù các cuộc hành quân càn quét của địch có gây cho ta một số khó khăn, song các cuộc càn đó của địch đều bị dân quân du kích và nhân dân cùng với các đại đội độc lập dựa vào làng chiến đấu đánh trả quyết liệt. Qua các cuộc chiến đấu, trình độ và khả năng tác chiến đánh tiêu diệt gọn phân đội địch của dân quân du kích trong đồng bào dân tộc đã pháy triển lên một bước mới, trong đó phải kể đến như Trung đội du kích tập trung của huyện Đắk Bớt phối hợp cùng du kích Ya Hội và Yang Bắc diệt gọn một trung đội địch có cả tên chỉ huy người Pháp, thu 2 trung liên, 1 tiểu liên và một số súng trường. Du kích Yang Bắc phục kích diệt cả 2 tiểu đội địch trên đường số 7 từ Yama đi Bơ Bah. 60

67 Tháng 2 năm 1952, Liên khu uỷ 5 ra nghị quyết Đoàn kết, tổ chức tranh đấu mọi mặt, không để cho địch củng cố phòng tuyến, mở rộng vùng chúng tạm chiếm để thực hiện chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt. Tích cực xây dựng củng cố cơ sở Đảng, các tổ chức quần chúng, tích trữ lực lượng, đợi thời cơ hành động. Giữ vững và phát triển đấu tranh vũ trang nội tuyến và ngoại tuyến [16, tr. 55]. Thực hiện chủ trương trên, trong tháng 2 năm 1952 chủ lực Liên khu mở hoạt động trên đường số 7, diệt và bức rút 5 cứ điểm, thu gần 100 súng và trên 10 tấn đạn, các đại đội độc lập và vũ trang tuyên truyền tiếp tục tiến lên phía tây đường 14 và phía nam đường 21. Đến cuối năm 1952, cơ sở cách mạng đã phát triển khá rộng ở Buôn Hồ, Lăk và Đăk Mil. Một số nhân dân ở trong vùng địch còn kìm kẹp đã tự bắt liên lạc với cán bộ gây cơ sở, xin làm nhiệm vụ liên lạc giữa vùng địch với vùng du kích. Tháng 8 năm 1952, lực lượng vũ trang các tỉnh Tây Nguyên tiến hành chỉnh huấn chính trị nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về một quân đội cách mạng thật sự của nhân dân, lấy chính trị làm gốc theo chủ trương chung của toàn Liên khu. Sau chỉnh huấn chính trị, bộ đội bắt đầu học tập về chiến thuật, tổng kết kinh nghiệm các đợt hoạt động vừa qua, chú trọng chiến thuật đánh gần và chiến thuật đặc công. Bộ đội được trang bị thêm súng, đạn để nâng cao khả năng chiến đấu trong thời gian tiếp theo. Đi đôi với công tác xây dựng cơ sở, phát động du kích chiến tranh, các tỉnh đều coi trọng công tác vận động nhân dân ra sức sản xuất, tổ chức thu mua lâm thổ sản để cải thiện đời sống cho nhân dân. Tỉnh Đắk Lắk tổ chức ba điểm thu mua ở Tân Vinh, Thành Hội và Dốc Phường để phục vụ cho đồng bào dân tộc miền Tây Phú Yên và các huyện M Đrak, Cheo Reo. Ngoài ra tỉnh còn tổ chức các đoàn ngựa thồ, mang hàng đến phục vụ cho đồng bào dân tộc ở các vùng sâu. Cán bộ chiến sĩ vừa vận động quần chúng, vừa hướng dẫn và lao động với nhân dân. Nhiều buôn làng trong các vùng căn cứ và du kích có phong trào sản xuất cứu đói. 61

68 Đến cuối năm 1952, phong trào kháng chiến đã phát triển đều khắp ở Tây Nguyên (mức độ có khác nhau do điều kiện ở từng địa phương) trong đó ta đã xây dựng được nhiều vùng du kích liên hoàn. Dân quân du kích ở nhiều địa phương đã đánh được địch. Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có đảng viên. Tổ chức đảng đã xây dựng trong một số đô thị, một số xí nghiệp và công sở trong lòng địch. Âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của thực dân Pháp bị hạn chế rõ nét Tăng cường lãnh đạo chiến tranh du kích, góp phần giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Tây Nguyên Chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy ở Tây Nguyên Sang năm 1953, cục diện chiến tranh nghiêng hẳn về phía ta, bất lợi cho thực dân Pháp. Ta càng đánh càng mạnh, càng thắng lớn. Địch càng tiếp tục chiến tranh, càng gặp khó khăn, lún sâu vào thế bị động đối phó. Trước những thất bại liên tiếp ở các chiến trường trong nước và Đông Dương, thực dân Pháp đứng trước tình thế có thể thua trận. Chính phủ Pháp đã phải tính đến biện pháp thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh, nhưng phải thương lượng trên thế mạnh về quân sự. Tháng 5 năm 1953, được sự đồng ý của Mỹ, chính phủ Pháp cử tướng Na-va, tổng tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương làm tổng chỉ huy các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương với hi vọng có thế tạo ra những điều kiện quân sự làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có danh dự nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Na-va vạch ra kế hoạch mang tên mình Kế hoạch Na-va, đặt ra mục tiêu trong 18 tháng sẽ giành lại thế chủ động chiến lược và sẽ chuyển bại thành thắng. Kế hoạch được chia thành hai bước: Bước 1: Thu đông năm xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam, đồng thời tăng cường quân nguỵ, tập trung binh lực xây dựng một đội quân cơ động lớn. 62

69 Bước 2: Thu đông năm 1954 sẽ đưa toàn bộ lực lượng ra miền Bắc, chuyển sang tiến công chiến lược trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định, kết thúc chiến tranh. Triển khai kế hoạch, Na-va đã cho thực hiện hàng loạt các cuộc hành quân có tính chất tiến công, nhằm càn quét vào vùng địch hậu và vùng hậu phương của ta, làm cho cuộc đấu tranh giữa ta và địch trở nên ngày một gay go và quyết liệt. Trong khi đó, về ta ngay từ đầu năm 1953, (từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 1 năm 1953), Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tiến hành họp và nhận định: Địch đã thất bại to ở chiến dịch Hòa Bình đầu năm 1952 và chiến dịch Tây Bắc cuối năm Bộ đội ta tiến bộ nhiều mặt về tinh thần, về chiến thuật cũng như kỹ thuật, trình độ tác chiến ngày một nâng cao ở cả địa bàn đồng bằng, trung du và miền núi. Căn cứ vào tình hình đó, Hội nghị chủ trương: tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, đánh địch ở nhưng nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động sau lưng địch. Nhiệm vụ chính của năm 1953 được hội nghị xác định: tiêu diệt sinh lực địch, phá âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh, nuôi chiến tranh; bồi dưỡng lực lượng nhân dân, lực lượng kháng chiến. Về phương châm tác chiến ở Trung và Nam Bộ, Hội nghị chủ trương: du kích chiến là chính. Đồng thời, Hội nghị nhấn mạnh: một trong những công tác chính năm 1953 là: tiếp tục tăng cường về mọi mặt, phát triển chiến tranh du kích, chống và phá càn quét để củng cố và mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích [56, tr ]. Đây chính là cơ sở để các cấp đảng tiếp tục thực hiện có hiệu quả mở rộng và đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp đánh địch. Tháng 9 năm 1953, tại căn cứ địa Việt Bắc, Bộ Chính trị họp bàn và thông qua kế hoạch Đông Xuân Đối với chiến trường Tây Nguyên, Bộ Chính trị chủ trương: Tập trung phần lớn chủ lực của Liên khu 5 mở cuộc tiến công lên chiến trường miền núi Tây Nguyên, ra sức tiêu diệt 63

70 một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai. Nhân dân, bộ đội địa phương, dân quân du kích cùng với một bộ phận nhỏ chủ lực có nhiệm vụ tích cực chuẩn bị để đối phó với âm mưu địch xâm phạm vùng tự do của ta. Địch tạm thời có thể đánh chiếm một bộ phận đất đai vùng tự do, nhưng nếu cuộc tiến công của ta phát triển thuận lợi trên chiến trường Tây Nguyên thì cuối cùng chúng cũng bị bắt buộc phải rút quân và có khi phải rút khỏi nhiều địa phương khác nữa [19, tr. 288]. Tiếp đến, trong báo cáo của Tổng Quân uỷ trình Bộ Chính trị ngày 27 tháng 11 năm 1953 nêu rõ: Chiến tranh du kích ở Tây Nguyên qua một thời gian khó khăn gần đây có bước phát triển nhưng chưa thu được kết quả lớn... Âm mưu của địch hiện nay một mặt là tiếp tục củng cố vùng tạm bị chiếm, nhất là Tây Nguyên, vì Tây Nguyên là vùng chiến lược quan trọng nhất của cả chiến trường miền Nam Đông Dương. Hiện chúng đang tập trung quân cơ động, chuẩn bị đề phòng ta tấn công ở mặt này, phát triển tề, GUOM về phía Bắc để nối thông vùng tạm bị chiếm Tây Nguyên [56, tr. 582]. Trước tình hình trên, Tổng Quân uỷ đưa ra chủ trương và nhiệm vụ: Tích cực và mạnh bạo phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía Bắc. Bởi chỉ có phát triển vào Tây Nguyên, mở rộng vùng tự do về hướng Tây thì mới giữ vững được vùng tự do hiện nay [56, tr. 584]. Nhiệm vụ phát triển vào Tây Nguyên phải coi là nhiệm vụ quan trọng thứ nhất, nhiệm vụ củng cố vùng tự do là quan trọng thứ hai. Vì vậy, phải tập trung lực lượng quân sự, cán bộ, huy động nhân lực vật lực, tăng cường chỉ đạo, để thực hiện nhiệm vụ phát triển, đồng thời phải phát triển từng bước, có kế hoạch [56, tr. 584]. Đồng thời yêu cầu: hướng chính để phát triển chiến tranh du kích hiện nay là Tây Nguyên, một mặt để phối hợp với hoạt động của chủ lực ở miền Bắc, một mặt khác để giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh ở miền Nam [56, tr. 588]. Thực hiện các chủ trương lớn của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5, các cấp bộ Đảng ở hầu khắp các tỉnh Tây Nguyên căn cứ vào tình hình của 64

71 địa phương đã kịp thời đưa ra chủ trương lãnh đạo, đẩy mạnh chiến tranh du kích, góp phần chia lửa với các chiến trường trong cả nước. Ban cán sự tỉnh Đắk Lắk quyết định họp liên tịch với tỉnh ủy Phú Yên bàn phối hợp các lực lượng để chống cuộc hành quân lớn của địch, phân công bố trí các lực lượng vũ trang tuyên truyền, vũ trang công tác trên các hướng để nhân thời cơ mở rộng và củng cố các cơ sở chính trị, cơ sở du kích trong lòng địch phối hợp với quân chủ lực khu bám sát đường 26, 14, 7, các cứ điểm tiền tiêu của địch, sẵn sàng đánh địch[1, tr. 255]. Tại Gia Kon, ngay sau khi có chủ trương tiến quân lên Tây Nguyên, Ban cán sự Đảng đã tập trung lãnh đạo làm công tác chuẩn bị về mọi mặt như đưa lực lượng bộ đội địa phương và du kích học tập chính trị, huấn luyện kỹ thuật sẵn sàng phối hợp đánh địch. Ở Lâm Đồng, để phối hợp với các hoạt động giữa các tỉnh Cực Nam, đầu năm 1954, Ban cán sự tỉnh cũng chủ trương theo dõi tình hình địch, làm kế hoạch chiến dịch và đẩy mạnh các hoạt động đánh địch [61, tr. 129]. Như vậy, từ những chủ trương đúng đắn và chỉ đạo sâu sát của Trung ương Đảng, Liên khu ủy 5 và sự vận dụng sáng tạo của từng Ban cán sự Đảng các tỉnh Tây Nguyên nên đã kịp thời đưa ra nhiều chủ trương phù hợp, sát với từng địa bàn, góp phần đẩy mạnh hoạt động chiến tranh du kích rộng khắp, từng bước làm thất bại các âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ( ) kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương Quân và dân Tây Nguyên hiện thực hóa chủ trương của Đảng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phối hợp chặt chẽ với chiến tranh chính quy Bị thất bại nặng nề trên chiến trường toàn quốc, đặc biệt là chiến dịch Tây Bắc cuối năm 1952, chiến dịch Thượng Lào đầu năm 1953, đã đẩy thực dân Pháp lún sâu vào thế bị động đối phó với ta trên khắp các chiến trường trong cả nước. Tuy nhiên, với sự giúp sức của Mỹ, thực dân Pháp vẫn mưu toan giành lại quyền chủ động trên chiến trường, kết thúc cuộc chiến tranh có lợi cho Pháp. 65

72 Đối với Tây Nguyên, mục tiêu của thực dân Pháp không hề thay đổi, tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa càn quét đánh phá, chiêu an dồn dân, trước mắt là đánh bật các lực lượng ta đang tiến sâu vào vùng nội địa, chốt chặn các hành lang tiến quân lên Tây Nguyên của bộ đội chủ lực Việt Minh. Do vậy, địch tiếp tục đẩy mạnh bắt lính, xây dựng nguỵ quân, phát triển các ổ vũ trang phản động. Đến đầu năm 1953, địch đã thành lập được 8 tiểu đoàn sơn chiến, nguỵ quân người Thượng chiếm 95% tổng quân số của Pháp tại Tây Nguyên. Cùng với đó, thực dân Pháp tìm mọi cách móc nối, lôi kéo những phần tử phản động để thành lập các tổ chức chính trị lộn sòng, bắt nhân dân phải học 5 điều của Hội A tum (đoàn kết, làm rẫy Nhà nước, đi học làm cán bộ, đánh Việt Minh); lợi dụng vào bọn phản động đội lốt thiên chúa giáo để tuyên truyền, lừa bịp, dụ dỗ nắm dân tổ chức lực lượng bảo vệ chúa, bảo vệ nhà thờ. Tháng 1 năm 1953, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 tập trung bộ đội chủ lực mở đợt tiến công tiêu diệt địch ở An Khê. Sau 12 ngày chiến đấu liên tục, phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích An Khê đã phá vỡ tuyến phòng thủ ở hướng Đông Bắc An Khê của địch, diệt và bức rút 4 cứ điểm, 2 tháp canh, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn và 6 đại đội địch thu gần 600 súng có ba đại bác 105 và 155 ly. Phối hợp với chủ lực, đại đội 54 địa phương tổ chức phục kích tiêu diệt một trung đội địch, bắt sống 20 tên trên đường 19; Đại đội địa phương 69 phân tán từng bộ phận phối hợp với dân quân du kích diệt tề điệp, hỗ trợ cho nhân dân phá khu dồn dân, xoá các ổ vũ trang phản động. Tỉnh Gia Kon phát động phong trào chống bắt lính; phong trào gia đình có chồng con theo địch vào đồn địch vận động không ra trận, không bắn bộ đội cách mạng, bỏ hàng ngũ địch về nhà làm ăn sinh sống. Qua vận động, nhiều nơi trong tỉnh đã nắm được nhiều gia đình và một số già làng, chủ làng, phân hoá và làm cô lập bọn cầm đầu ngoan cố trong các ổ vũ trang phản động, có nơi nắm hẳn được tổ chức này. Trong đó, 13 làng ở Đắk Bớt, 23 làng ở An Khê đã diệt và phá rã gần hết các ổ vũ trang phản động, thu 66

73 80 khẩu súng. Nhân dân các xã làng Kul Kôn, Tà Nung, Ta Núp, Xa Wong, Kà Tung bị địch dồn ra ven đường 19 đã nổi dậy phá khu đồn chạy về gần khu du kích Stơr. Nhân dân vùng Kannak, Cổ Yêm, Đé Bỏ diệt 2 tên ác ôn, vận động phá rã GOUM nộp cho chính quyền cách mạng 91 khẩu súng. Vùng du kích Bắc Tây Nguyên mở rộng và liên hoàn từ Đakglei, Đắk Tô, Kon Phong (Kon Tum) vào đến Pleiku, An Khê, Đắk Bớt (Gia Lai) nối liền với vùng du kích Đất Bằng ở Cheo Reo (Đắk Lắk). Tại các địa phương khác như Lâm Đồng, Đắk Lắk, Kon Tum, bộ đội chủ lực kết hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích và đồng bào các địa phương đẩy mạnh đánh địch, gây cho chúng nhiều hoang mang, phải rút bỏ nhiều vị trí quan trọng. Cùng với đó, phong trào vận động nhân dân, vận động chồng con của những người mẹ, người vợ có chồng con đi theo làm lính cho Pháp rời bỏ hàng ngũ, không theo giặc Pháp đã được đẩy mạnh, thu được nhiều kết quả, nhiều người đã bỏ hàng ngũ địch quay về làm ăn lương thiện, hoặc tham gia vào các tổ chức kháng chiến đánh lại địch, góp phần làm thất bại âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của thực dân Pháp. Sau thất bại liên tiếp, đặc biệt là thất bại trong chiến dịch An Khê, Nava đã ráo riết tăng cường lực lượng, đưa tổng số quân Pháp ở Nam Trung Bộ hơn 50 ngàn, tăng gần 1/3 so với năm 1952, có 25 tiểu đoàn cơ động. Ở Tây Nguyên, thực dân Pháp vẫn tiếp tục thực hiện mục tiêu đẩy mạnh càn quét đánh phá, chiêu an dồn dân (đáng chú ý nhất là đẩy mạnh bắt lính, xây dựng nguỵ quân, phát triển các ổ vũ trang phản động - GOUM). Bên cạnh đó, đẩy mạnh các cuộc tiến công chiếm đóng các căn cứ bàn đạp của ta, tạo điều kiện ổn định tình hình và chuẩn bị tiến đánh các vùng tự do ven biển. Từ mùa Hè năm 1953, sau thất bại liên tiếp trên các chiến trường như ở Tây Nguyên, Quảng Nam, Phan Thiết, Khánh Hoà. 91 lô cốt của địch bị ta tiêu diệt trong 6 tháng đầu năm 1953 trên chiến trường Liên khu 5, đặc biệt là 67

74 thất bại chiến dịch An Khê (tháng 1 năm 1953), bị hao tổn nhiều lực lượng, tên bị tiêu diệt, buộc chúng khi rút quân khỏi Nà Sản đã phải điều động một bộ phận quân cơ động này vào ứng phó. Mặc dù có những tổn thất về lực lượng, song địch vẫn còn mạnh và đang thực hiện được âm mưu bình định, từng bước củng cố ở các vùng tạm chiếm, nhất là vùng Nam Tây Nguyên. Sau mỗi đợt hoạt động của ta, với quân tăng viện từ nơi khác đến, thực dân Pháp lại tập trung mở các cuộc càn quét vào vùng du kích và căn cứ du kích của ta ở Bắc Tây Nguyên, đẩy mạnh việc phát triển tề và các ổ vũ trang phản động (GOUM), gây cho ta nhiều khó khăn trong việc duy trì và đẩy mạnh chiến tranh du kích. Trên toàn chiến trường Liên khu 5, địch đã phát triển thêm lực lượng nguỵ quân, đưa tổng số lực lượng địch trên chiến trường này gồm 25 tiểu đoàn chính quy và khoảng 100 đại đội lẻ, thành phần 88% là nguỵ binh và trong số đó chúng đã tập trung 14 tiểu đoàn và một số đại đội lẻ ở địa bàn Tây Nguyên, chuẩn bị mở các cuộc hành quân càn quét vào vùng tự do của Liên khu 5. Căn cứ vào tình hình địch, ta trong Chỉ thị của Trung ương Đảng ngày 28 tháng 9 năm 1953, Về tình hình địch, ta ở Liên khu 5 và chủ trương công tác quân sự của ta sắp tới đã chủ trương: Tăng cường chất lượng cho bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương đi đôi với việc phát triển thêm số lượng, đẩy mạnh hoạt động của chủ lực và du kích chiến tranh sau lưng địch, mở rộng cơ sở, xây dựng căn cứ, phối hợp chặt chẽ với chiến trường miền Bắc để phá âm mưu củng cố và bình định miền Nam của địch, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng cường đấu tranh vũ trang ở Nam Bộ và Miên [64, tr. 83]. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, quân và dân Tây Nguyên bước vào đợt hoạt động mới. Từ sau hoạt động Xuân Hè năm 1953, ba thứ quân trên chiến trường Tây Nguyên vừa tổ chức xây dựng, học tập chỉnh quân, vừa hoạt động liên tục giữ vững thế chiến trường. Tính đến cuối năm 1953, toàn Liên khu xây dựng thêm một tiểu đoàn chủ lực, 1 tiểu đoàn pháo 68

75 cối hỗn hợp, 1 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ly, 1 liên đội đặc công, 2 đại đội công binh. Các tỉnh xây dựng thêm 2 tiểu đoàn tập trung và 6 đại đội, 6 trung đội độc lập, 5 đại đội đặc công. Ngày 27 tháng 11 năm 1953, trong Báo cáo trình Bộ Chính trị, Tổng Quân uỷ nhận định: Liên khu 5 hiện là vùng tự do quan trọng nhất của ta ở chiến trường miền Nam, nằm ở phía Đông Tây Nguyên và trên con đường đi Nam Bộ. Do có vị trí chiến lược quan trọng, nên vùng tự do Liên khu 5 có thể trở nên một căn cứ có điều kiện để uy hiếp Tây Nguyên hoặc phát triển lên Hạ Lào và Đông Miên, tạo một thế uy hiếp lớn đối với miền Nam và trở nên một bàn đạp quan trọng cho quân ta ở miền Nam [64, tr. 194]. Địch lại đang tích cực thực hiện âm mưu củng cố miền Nam để duy trì và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, thì chúng có thể chiếm rộng ra vùng tự do Liên khu 5, từ miền Tây đánh xuống và ven biển đánh vào [64, tr. 195]. Vì vậy, trong âm mưu hiện nay là: một mặt tiếp tục củng cố vùng tạm chiếm, nhất là Tây Nguyên, vì vậy Tây Nguyên là vùng chiến lược quan trọng nhất của cả chiến trường miền Nam Đông Dương. Hiện chúng đang tập trung quân cơ động, chuẩn bị đề phòng ta tấn công ở mặt này, phát triển tề GOUM (các ổ vũ trang phản động) về phía Bắc để nối thông vùng tạm chiếm Tây Nguyên với Hạ Lào và miền Tây Quảng Nam, tiến tới kiểm soát đường số 14, chặn đường giao thông của ta từ Bắc vào Nam. Ngoài ra, chúng sẽ tích cực đánh phá những căn cứ du kích của ta còn lại trong địch hậu, nhất là căn cứ Nam Bình Thuận, hòng biến miền Nam Trung Bộ thành nơi an toàn của chúng [64, tr ]. Để thực hiện âm mưu trên, địch sẽ gây cho ta nhiều khó khăn mới, Tây Nguyên sẽ được củng cố hơn trước, vùng tự do còn lại bị uy hiếp mạnh hơn và dần dần bị thu hẹp. Trước tình hình đó, Tổng Quân uỷ đã chỉ thị cho Liên khu 5 cần tích cực, cố gắng, ra sức tranh thủ thời gian, khắc phục mọi khó khăn để phá âm mưu của địch. Trong đó, phương châm chiến lược tích cực và mạnh bạo 69

76 phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là ở phía Bắc, tiếp tục củng cố vùng tự do hiện nay [64, tr. 197]. Để thực hiện được phương châm trên, Tổng Quân uỷ yêu cầu: tranh thủ thời gian, tích cự tăng cường lực lượng vũ trang của Liên khu về số lượng và chất lượng; phát triển mạnh về chiến trường Tây Nguyên và Hạ Lào, chủ yếu hiện nay là về phía Bắc Tây Nguyên; để tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng căn cứ địa (kể cả vùng tự do hiện nay) về phía Tây, củng cố vùng hành lang Bắc Tây Nguyên nối liền Liên khu 5 và Hạ Lào và phát triển rộng ra, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên và chiếm rộng ra vùng ven biển [64, tr. 197]. Thực hiện chỉ lệnh của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, quân và dân Liên khu 5 đã chuẩn bị mọi phương án đánh địch, trong đó chú trọng tập trung toàn bộ lực lượng bộ đội chủ lực tiến công địch ở Tây Nguyên và kiên quyết đánh địch, bảo vệ vùng tự do, địch đánh đến địa phương nào thì lực lượng ở địa phương ấy tích cực đánh địch, giam chân địch không cho chúng phát triển. Những nơi địch chưa đến thì vừa làm tốt công tác chuẩn bị sẵn sàng đánh địch, đồng thời tích cực phục vụ tiền tuyến tiến công địch. Các chiến trường sau lưng địch đẩy mạnh chiến tranh du kích đánh phá giao thông, thọc sâu đánh vào hậu cứ địch kết hợp đẩy mạnh công tác binh vận, phá kế hoạch tăng cường quân nguỵ của địch. Cùng thời điểm này, thực dân Pháp đang ráo riết triển khai kế hoạch Na-va hòng giành thắng lợi có tính chất quyết định trong vòng 18 tháng. Một trong những mục tiêu của kế hoạch là đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5, bình định miền Nam trong Đông Xuân Để chuẩn bị cho cuộc tiến công đánh chiếm này, địch đã điều thêm đến Nam Trung Bộ 4 binh đoàn cơ động và 14 tiểu đoàn khinh quân (lúc đầu là 9 tiểu đoàn) từ Nam Bộ ra, Bắc Bộ vào. Các tiểu đoàn sơn chiến ở Tây Nguyên ghép lại thành các binh đoàn 41 và 42. Từ đó mở nhiều cuộc hành quân càn quét các căn cứ bàn đạp của ta ở dọc vùng giáp ranh với các tỉnh đồng bằng 70

77 vừa nhằm mục đích ổn định hậu phương, vừa để chuẩn bị hành lang, bàn đạp cho các cuộc hành quân chiếm các tỉnh tự do ven biển. Ngày 20 tháng 1 năm 1954, quân Pháp bắt đầu mở cuộc hành quân tiến công chiếm đóng tỉnh Phú Yên - thực hiện bước thứ nhất trong kế hoạch ba bước đánh chiếm 4 tỉnh tự do Nam Ngãi Bình Phú. Trong khi đó, về ta, ngày 27 tháng 1 năm 1954, thực hiện chỉ lệnh của Tổng Quân uỷ, cuộc tiến công lên Tây Nguyên của quân và dân ta bắt đầu. Trên hướng chính Bắc Kon Tum, sau 7 ngày tiến công liên tục và thần tốc, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân kết hợp với bộ đội chủ lực đã quét sạch hệ thống đồn bốt, tiêu diệt, bắt sống và làm tan rã toàn bộ lực lượng tại chỗ của địch, giải phóng toàn bộ phía bắc tỉnh, bao vây và uy hiếp thị xã Kon Tum. Lực lượng địa phương đã mở đường, bảo vệ hành lang và phối hợp với bộ đội chủ lực diệt một số cứ điểm địch, phá tan các ổ GOUM, tham gia truy bắt và gọi hàng tàn quân. Trên hướng thứ yếu, bộ đội địa phương và dân quân du kích và nhân dân các địa phương được sự phối hợp của một số tiểu đoàn chủ lực, tiến công tiêu diệt và bức 5 cứ điểm, làm chủ đường 19 đoạn Đông Tây đèo Mang Giang, uy hiếp thị xã Pleiku. Trước sự tiến công mạnh liệt của bộ đội chủ lực cùng các lực lượng địa phương, ngày 7 tháng 2 năm 1954, quân Pháp ở thị xã Kon Tum buộc phải rút chạy. Toàn tỉnh Kon Tum với diện tích trên km 2 và dân hoàn toàn được giải phóng. Bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân truy lùng, bắt và gọi hàng gần nguỵ quân, nguỵ quyền, tề điệp, nhanh chóng ổn định tình hình vùng giải phóng. Ngày 17 tháng 2 năm 1954, trong lúc bộ đội chủ lực tiếp tục tiến công quân Pháp ở trong và ven thị xã Pleiku, thì lực lượng địa phương, dân quân du kích và nhân dân Gia Lai tiêu diệt một loạt đồn bốt của địch ở dọc hai bên đường 19, giải tán các ổ vũ trang phản động trong khu vực, bắt và gọi hàng hơn nguỵ quân, nguỵ quyền. Đồng thời, phối hợp với chủ lực vây ép các cứ điểm của địch trên đường

78 Tại Đắk Lắk, giữa tháng 1 năm 1954, bộ đội địa phương và dân quân du kích liên tục đánh phá vào các bàn đạp và kho hậu cần dự trữ của cánh quân địch từ Tây Nguyên đánh xuống Phú Yên, sau đó phát triển lên đường số 7, 21 đồng thời đánh sâu lên đường 14 làm bất ổn tình hình địch. Du kích vùng Đắk Bằng - Suối Trai bố trí trận địa, ngăn chặn 1 tiểu đoàn Âu Phi đang hành quân càn quét, làm chết và bị thương 50 tên địch, số còn lại hoảng hốt tháo chạy. Đến tháng đầu tháng 4 năm 1954, khi trên chiến trường chính, quân Pháp bị tiến công mạnh mẽ ở Điện Biên Phủ và khắp nơi trên cả nước, Bộ Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp không những không còn quân đưa đến chiến trường Nam Trung Bộ. Do vậy, cuối tháng 4 năm 1954 thực dân Pháp buộc phải rút binh đoàn 11, 21 và một số tiểu đoàn khinh quân nguỵ ở Nam Trung Bộ đi cứu nguy các nơi khác, rút bớt đồn bốt, thu hẹp phạm vi chiếm đóng, co về phòng ngự thị xã, thị trấn và các trục đường giao thông quan trọng. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chủ lực của ta trên chiến trường chính tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến thắng vĩ đại này đã đẩy nhanh cao trào tiến công địch trên khắp cả nước. Lúc này, trên chiến đường 19 An Khê, quân Pháp chỉ còn binh đoàn cơ động 100 và một số tiểu đoàn khinh quân chốt giữ. Binh đoàn 42 phòng thủ ở Pleiku. Trước hiện tượng quân Pháp rút chạy khỏi nhiều địa bàn rộng lớn trên chiến trường toàn quốc, Bộ Tư lệnh Liên khu 5 lệnh cho Trung đoàn 96 phải theo dõi chặt chẽ mọi hành động của địch và sẵn sàng tiêu diệt khi chúng tháo chạy khỏi An Khê. Đồng thời, phối hợp với các lực lượng ở địa phương để đẩy mạnh phong trào diệt địch. Đúng như dự định của ta, ngày 24 tháng 6 năm 1954, binh đoàn Âu Phi cơ động số 100 của Pháp ở An Khê tháo chạy. Thực hiện chủ trương: kiên quyết đánh tiêu diệt toàn bộ quân địch rút chạy, khi đại bộ phận quân địch lọt vào trận địa, Trung đoàn bắt đầu nổ súng tiêu diệt địch. Sau hơn 1 giờ chiến đấu liên tục và kiên quyết, quân ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa, trên 700 lính 72

79 Âu Phi bị loại khỏi vòng chiến đấu, ta thu 229 xe cơ giới, 20 đại bác và trên 1 ngàn súng các loại. Thừa thắng, quân ta nhanh chóng phát triển tiến công tiêu diệt một bộ phận của binh đoàn cơ động số 42, quét sạch địch trên đường 19. Thị trấn An Khê được giải phóng, lực lượng địa phương, dân quân du kích và nhân dân diệt địch, giải phóng hoàn toàn các huyện Đắk Bớt, Pleikon và đại bộ phận nông thôn phía tây đường 14, Pleiku, bao vây quân Pháp ở thị xã Pleiku. Cũng trong thời gian này, chủ lực Liên khu đã tiến sâu vào diệt địch từ Cheo Reo đến Củng Sơn Tuy Bình và trên dường 21 kéo dài. Nhân đà thắng lợi, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân địa phương đẩy mạnh hoạt động tiếp tục bao vây, bức rút hàng loạt cứ điểm nhỏ, cơ bản giải phóng các huyện Cheo Reo, M Đrak, phần lớn khu vực phía đông đường số 14 của huyện Buôn Hồ, liên hoàn với vùng giải phóng của tỉnh Gia Lai ở phía Bắc. Tháng 7 năm 1954, cả ba trung đoàn chủ lực của địch đến tập trung ở Đắk Lắk, đường số 14, đường số 7, số 21 đều bị chủ lực ta khống chế. Địch ở thị xã Buôn Ma Thuột hoang mang giao động. Bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng nhân dân bao vây bức hàng, bức rút một số đồn bốt. Chiến tranh du kích phát triển mạnh ở phía tây đường 14 và phía nam đường 21. Nhiều buôn làng ở ven thị xã Buôn Ma Thuột thành lập chính quyền cách mạng. Trong khi đó, tại Lâm Đồng, trong những tháng đầu năm 1954, lực lượng ta ở Lâm Đồng kết hợp đấu tranh chính trị ở Đà Lạt với đánh tiêu hao nhỏ ở nông thôn, phát triển chiến tranh du kích mở thế chiến trường. Đầu tháng 4 năm 1954, một bộ phận của Trung đoàn 812 từ Bình Thuận lên phối hợp cùng lực lượng tại chỗ, tiêu diệt 3 cứ điểm nằm ở vùng giáp ranh 2 tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng, sau đó phát triển tiến công địch ở đồn Lút-xe, ở các buôn B rang, Trà Giang, Da Kay, Tà Xi các đội vũ trang tiến sâu vào vùng bắc Di Linh, khu vực giữa Đơn Dương và Đức Trọng, giải tán một số ổ vũ trang phản động, biến 52 buôn từ vùng địch tạm chiếm thành vùng du kích, giải phóng một khu vực rộng lớn bằng 1/3 tỉnh Đồng Nai Thượng, với gần dân trong khu vực B Lao và Di Linh. 73

80 Thắng lợi của quân và dân ta trên chiến trường chính Điện Biên Phủ và trên cả nước, cũng như những thắng lợi ở chiến trường Bắc Tây Nguyên đã đánh bại kế hoạch Na-va, đập tan hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ ngày 21 tháng 7 năm 1954, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Như vậy, sau 7 tháng sát cánh cùng bộ đội chủ lực chiến đấu bền bỉ, liên tục tiến công địch, quân và dân các tỉnh Tây Nguyên đã cơ bản giải phóng Bắc Tây Nguyên, trong đó tỉnh Kon Tum hoàn toàn giải phóng, tỉnh Gia Lai giải phóng gần 90% (trừ thị xã Pleiku); nhiều vùng rộng lớn ở Nam Tây Nguyên cũng được giải phóng tạo ra thế bao vây chia cắt từng cụm quân địch còn lại. Đang trên đà phát triển thì hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, theo hiệp định ta bàn giao một số địa phương cho địch quản lý. Cán bộ và lực lượng vũ trang tập kết ta rút ra miền Bắc có sự giám sát của Uỷ ban quốc tế. Tiểu kết chương Trong giai đoạn , quân dân cả nước đẩy mạnh tổng phản công, tiến công địch rộng khắp trên các chiến trường, đẩy địch lún sâu vào thế bị động, lúng túng đối phó. Ở Tây Nguyên, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, mệnh lệnh của Tổng Quân uỷ và Nghị quyết của Liên khu uỷ 5, quân và dân đồng bào các dân tộc Tây Nguyên khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp, phá tan nhiều ổ vũ trang phản động của địch, tạo thế liên hoàn tiến công địch. Cuộc tiến công lên Tây Nguyên trong giai đoạn này cơ bản giải phóng Bắc Tây Nguyên và nhiều vùng rộng lớn khác ở Lâm Đồng, Đắk Lắk... Đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp trên chiến trường Tây Nguyên không những thể hiện tài trí của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta mà còn thể hiện một quyết tâm sắt đá của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất và mưu trí, sáng tạo trong đấu tranh với kẻ thù, làm thất bại nhiều âm mưu thâm độc của thực dân Pháp trong chính sách chia để trị, 74

81 góp phần xứng đáng cùng quân dân cả nước đánh bại thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn thoàn miền Bắc, là cơ sở, tiền đề tác dụng to lớn cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này. Thực tiễn chiến tranh du kích Tây Nguyên phát triển và giành được nhiều thắng lợi thể hiện trước hết và trên hết là được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, của Tổng Quân uỷ, của Liên khu uỷ 5 và tỉnh uỷ các địa phương trong việc quán triệt, vận dụng đường lối, chính sách của Đảng phù hợp với đặc điểm, tình hình Tây Nguyên, biến đường lối của Đảng thành hiện thực, đưa phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp và thu được nhiều thắng lợi quan trọng. Trong cuộc đấu tranh gian khổ và anh dũng của nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã phải trải qua biết bao gian lao thử thách, đã chịu nhiều mất mát hi sinh, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Tây Nguyên một lòng đoàn kết, đứng vững và từng bước hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ trên chiến trường được coi là ác liệt, khó khăn gian khổ nhất không chỉ của Liên khu 5 mà cả phần phía Nam của Tổ quốc. 75

82 Chương 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 3.1. Một số nhận xét Ưu điểm - Đảng luôn nhận thức đúng về vai trò, vị trí của chiến tranh du kích Chiến tranh là một cuộc thử thách lớn đối với mỗi quốc gia dân tộc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Ở nước ta, xuyên suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta, nhân dân ta phải đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược để giữ vững nền độc lập dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( ), trên cơ sở kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh giành và giữ độc lập của các thế hệ cha ông đi trước, Đảng ta đã vận dụng một cách có hiệu quả vào cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp. Là một dân tộc nhỏ, đất không rộng, người không đông, kinh tế lạc hậu, nghèo nàn nhưng phải đương đầu với hàng trăm cuộc chiến tranh xâm lược qua các giai đoạn lịch sử. Đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai, là một cuộc chiến tranh hoàn toàn chênh lệch về lực lượng, phương tiện, cả về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội. Pháp là một nước tư bản phát triển gấp nhiều lần so với nước ta, có tiềm lực quân sự mạnh ở châu Âu lúc bấy giờ. Còn nước ta, khi bước vào cuộc chiến tranh giành độc lập này đã phải trải qua một cuộc chiến đấu ngót 100 năm trước đó để giành độc lập. Tuy nhiên, vừa giành được độc lập, nhân dân ta lại phải đối phó với cuộc chiến tranh mới trong điều kiện khó khăn được ví như ngàn cân treo sợi tóc. Kế thừa những kinh nghiệm quý báu qua các cuộc đấu tranh giành độc lập của cha ông, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết đứng lên, với một tinh thần sắt đá: thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, bền bỉ đấu tranh giành thắng lợi từng bước. 76

83 Để có thể đánh lại thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng bằng đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa chiến đấu, vừa xây dựng. Đồng thời, để đánh thắng đội quân xâm lược lớn mạnh về kinh tế và quân sự thì phải có một nền nghệ thuật quân sự độc đáo, một phương thức tiến hành chiến tranh sáng tạo, phù hợp với đặc điểm, tình hình của nước ta. Ngay từ đầu, chúng ta đã dùng phương châm chiến lược đánh lâu dài, từng bước tạo lực, tạo thế, bắt đầu từ chiến tranh du kích, rồi từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ giữa hai loại hình tác chiến này, từng bước làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường, tạo ưu thế giành thắng lợi quyết định. Để phát động toàn dân đánh giặc và đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, thực hiện mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi khu phố là một trận địa, cần phải phát động chiến tranh du kích rộng rãi. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Mục đích của du kích chiến cũng không phải là ăn to đánh lớn mà phải tỉa dần, đánh làm cho nó ăn không ngon, ngủ không yên, không thở được, bị hao mòn về tinh thần và vật chất rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt [95, tr. 525]. Cũng để phát động chiến tranh du kích, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của lực lượng dân quân du kích, tự vệ. Đó là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kẻ địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã [35, tr ]. Đến Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ hai (4.1948), một lần nữa Đảng nhấn mạnh: trong giai đoạn tích cực cầm cự và chuẩn bị phản công này, du kích chiến là chính, vì vậy dân quân phải mạnh, nhất là trong vùng địch tạm chiếm. Trong vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Đảng đã luôn coi trọng thành phần ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân 77

84 du kích làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây là hình thức tổ chức phù hợp nhất để phát huy sức mạnh của toàn dân tham gia đánh giặc, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của nước ta. Chiến tranh du kích diễn ra khắp mọi nơi, có tác dụng khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán binh lực của quân xâm lược. Để giành ưu thế về quân sự, địch cần tập trung lực lượng, song với địa bàn rộng, để giành đất, giữ dân, không có cách nào khác chúng phải phân tán lực lượng trong những hệ thống đồn bốt dày đặc. Càng mở rộng địa bàn chiếm đóng, lực lượng quân sự của chúng càng bị căng kéo, dàn mỏng, khả năng tác chiến cũng bị yếu đi. Vì vậy, để khai thác điểm yếu này của đối phương, Đảng ta đã coi trọng phát triển chiến tranh du kích. Trong đó, xây dựng lực lượng dân quân du kích đảm bảo có lực lượng tại chỗ rộng khắp, có khả năng giải quyết yêu cầu tác chiến tập trung và phân tán, chủ động đánh địch trong mọi lúc mọi nơi, kết hợp nhiều hình thức và quy mô tác chiến, thường xuyên chiến đấu giam chân, tiêu hao và chia cắt địch. Với những quan điểm, tư tưởng, nguyên tắc về chiến tranh du kích mà Đảng ta đề ra trong chiến tranh cách mạng, trải qua các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Pháp, được các cấp Đảng bộ và chính quyền, các đơn vị lực lượng vũ trang quán triệt và tích cực thực hiện; chiến tranh du kích đã tạo điều kiện cho chiến tranh chính quy phát triển và cùng với chiến tranh chính quy tấn công địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, giành thắng lợi cuối cùng. Ở Tây Nguyên, quán triệt tư tưởng và quan điểm về chiến tranh du kích của Đảng, các cấp bộ Đảng ở Tây Nguyên đã có sự vận dụng sáng tạo, tổ chức và phát động chiến tranh du kích rộng khắp, từ cơ sở bản làng, thôn xã, thực hiện kiên trì bám đất, bám dân, kết hợp đánh địch cả trước và sau lưng địch, kết hợp cả đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự tạo nên một thế trận xen kẽ cài răng lược, làm cho thực dân Pháp phải căng kéo lực lượng đối phó 78

85 và cuốn theo lối đánh của ta, tạo điều kiện cho các chiến trường trên cả nước đánh địch thuận lợi. Như vậy, xuyên suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, sử dụng phương thức chiến tranh khác nhau (từ phát động chiến tranh du kích, tiến lên chiến tranh chính quy, có sự kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy), song Đảng luôn coi trọng vị trí vai trò của chiến tranh du kích, nhân tố quan trọng để phát động toàn dân tham gia kháng chiến. Đó chính là đặc điểm lớn nhất của chiến tranh nhân dân Việt Nam. - Đảng thường xuyên có chỉ thị, nghị quyết chỉ đạo chiến tranh du kích kịp thời và phù hợp với địa bàn Tây Nguyên Để đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực, thấm sâu vào quảng đại quần chúng nhân dân và biến thành tự giác, sáng tạo của quần chúng, Đảng đã luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời từ nắm bắt thực tế tình hình của từng địa bàn, từng địa phương, vùng miền và của từng chiến trường cụ thể mà Đảng đã kịp thời có chủ trương, nghị quyết và đề ra biện pháp thực hiện đúng đắn, phù hợp trong mọi thời điểm cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhờ phát huy quyền làm chủ của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, nên Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh chung chống xâm lược giành thắng lợi. Trong đó, địa bàn Tây Nguyên là một điển hình. Nhờ nắm bắt được tình hình địa bàn chiến lược Tây Nguyên, có chính sách phù hợp nên Đảng đã lãnh đạo, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Tây Nguyên từng bước có sự phát triển, cùng cả nước đánh bại các âm mưu của chúng, giành thắng lợi. Cuộc kháng chiến của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên chống thực dân Pháp bắt đầu kể từ sau khi Pháp nổ súng ở Buôn Ma Thuột ( ), 79

86 Đảng đã kịp thời chỉ thị cho Xứ ủy, Ủy ban hành chính Nam Trung Bộ một mặt khẩn trương tìm mọi cách xây dựng và củng cố bộ máy lãnh đạo các cấp ở Tây Nguyên, mặt khác chỉ thị cho các tỉnh ven biển đưa cán bộ lên giúp các tỉnh Tây Nguyên, xây dựng lực lượng, chuẩn bị kháng chiến và tổ chức chiến đấu ngăn chặn, kìm chân địch. Tuy có sự chuẩn bị về mọi mặt, song lúc này quân Pháp đang mạnh, dã tâm lớn, nên chỉ hai tháng sau, thực dân Pháp đã đánh chiếm được hầu như toàn bộ các tỉnh Tây Nguyên. Là một địa bàn chiến lược, có tầm quan trọng trong việc khống chế các vùng xung quanh, chia cắt mọi sự liên hệ giữa miền Bắc với miền Nam và cả Nam Đông Dương, nên ngay sau khi đánh chiếm xong Tây Nguyên, thực dân Pháp đã thực hiện một loạt các âm mưu thâm độc, đồng thời không ngừng thay đổi các phương thức tổ chức hành chính để nắm ngày càng chặt chẽ hơn địa bàn Tây Nguyên; mục đích cuối cùng của chúng là chia Tây Nguyên thành một địa hạt hành chính riêng, độc lập và đặt Tây Nguyên là một đơn vị quân sự lãnh thổ ngang hàng với các miền Bắc, Trung, Nam, đồng thời xây dựng các lực lượng quân sự mang sắc thái dân tộc thiểu số địa phương [117, tr. 9], phục vụ cho mưu đồ xâm lược lâu dài của chúng. Để đối phó với các âm mưu thực dân Pháp áp dụng ở Tây Nguyên, trong những năm 1947 đến năm 1949, Đảng bộ các cấp đã từng bước có những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, kịp thời ra các chỉ thị, nghị quyết sát đúng với tình hình địa bàn, phát động chiến tranh du kích và từng bước đẩy mạnh chiến tranh du kích, đồng thời thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, kiên trì giáo dục, vận động quần chúng đứng lên kháng chiến. Cùng với đó, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích, các cấp bộ Đảng đã từng bước rút kinh nghiệm và uốn nắn kịp thời các thiếu sót, khuyết điểm trong chỉ đạo quần chúng nhân dân kháng chiến, nên ngày một thu được sự tin cậy, ủng hộ của đồng bào các dân tộc, cơ sở chính trị, phong trào kháng chiến từ đó cũng được củng cố và có bước phát triển vững chắc. Đến 80

87 giai đoạn , là giai đoạn thực dân Pháp thực hiện nhiều âm mưu thâm độc đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, do đó tình trạng mất đất, mất dân diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là giai đoạn , đã làm cho phong trào kháng chiến có phần lắng xuống, một số cơ sở cách mạng bị đánh bật ra khỏi địa bàn. Nắm bắt được tình hình đó, Trung ương Đảng, trực tiếp là Liên khu ủy 5 và Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên đã nhanh chóng nhận thức về vị trí vai trò địa bàn chiến lược Tây Nguyên, xác định lại phương hướng phong trào chiến tranh du kích, kịp thời có những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp với đặc điểm, tình hình địa bàn; tiến hành tương đối đồng bộ cả về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, cả lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và cơ sở Đảng trong đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, từ đó xây dựng được lực lượng và thế trận chiến tranh du kích với quy mô và hình thức phù hợp với điều kiện chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tiến công lên Tây Nguyên trong Đông Xuân giành thắng lợi, giải phóng Bắc Tây Nguyên, tạo thế bao vây, co cụm quân địch còn lại ở Nam Tây Nguyên, góp phần cùng quân dân cả nước giành thắng lợi quyết định về mặt quân sự, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. - Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, nhân dân các tỉnh Tây Nguyên luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, sát cánh cùng quân dân cả nước đập tan các âm mưu của địch Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ở Tây Nguyên đặc trưng nổi bật, bao trùm, tạo nên sự khác biệt so với các vùng, miền, chiến trường khác chính là ở chỗ: là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, trải dài trên địa bàn rộng, nhưng mật độ dân số thấp, đại bộ phận các buôn làng người dân tộc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trình độ kinh tế, văn hóa, xã hội rất thấp, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại phổ biến, thế nhưng xuyên suốt chiều dài lịch 81

88 sử đấu tranh của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên là luôn tin, đi theo Đảng, Bác Hồ, kiên quyết, anh dũng trong đấu tranh chống lại các âm mưu thâm độc chia rẽ của kẻ thù xâm lược. Khi đặt chân đến xâm lược Tây Nguyên, thực dân Pháp đã sử dụng nhiều âm mưu thâm độc để chia rẽ đồng bào Tây Nguyên ra khỏi phong trào đấu tranh cách mạng, nhưng đối phương đã sai lầm khi chưa đánh giá hết tinh thần thượng đạo, tinh thần yêu nước, yêu quê hương, thôn làng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, nên trong suốt quá trình xâm lược, mặc dù thực dân Pháp đã thực hiện rất nhiều kế hoạch, nhiều âm mưu thâm độc, nhất là âm mưu lập Xứ Tây kỳ tự trị, hòng để cô lập nhân dân Tây Nguyên đứng ngoài phong trào cách mạng, cắt đứt mọi con đường liên lạc giữa miền Bắc và miền Nam, biến cao nguyên thành một vùng hoàn toàn thuộc địa cai trị của Pháp chấm dứt sự du nhập của người Việt [61, tr. 43] vào Tây Nguyên, nhưng cuối cùng chúng phải thất bại. Nhân dân các dân tộc Tây Nguyên dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng vẫn kiên trì bám trụ địa bàn, tin tưởng vào đường lối, chủ trương của Đảng, thực hiện và chấp hành tốt mọi chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt trong đẩy mạnh chiến tranh du kích đánh địch. Đồng bào từ vùng sâu, vùng xa, vùng cao cho đến các huyện lỵ, vùng sau lưng địch đều có những tổ chức đánh địch, như Hội đánh Tây, Hội ăn thề chống Pháp.v.v. thực hiện toàn dân tham gia đánh giặc giữ bản làng, quê hương. Thực dân Pháp càng điên cuồng thực hiện nhiều chính sách cai trị và chia rẽ thâm độc, thì đồng bào các dân tộc Tây Nguyên càng căm ghét và tìm mọi cách chống lại chúng. Ngược lại, với chúng ta, bằng đường lối chính sách chung đã có sức mạnh cảm hóa lòng người, tập hợp lực lượng đánh bại âm mưu thủ đoạn thâm độc của địch và sức mạnh đó càng được nhân lên gấp nhiều lần khi được tổ chức thực hiện một cách đúng đắn, sáng tạo [34, tr ]. Như vậy có thể thấy, trong điều kiện khó khăn của cuộc kháng chiến, những chủ trương, chính sách của Đảng đã được Xứ ủy, về sau là Liên khu ủy 82

89 5 và các cấp Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân các dân tộc Tây Nguyên thực hiện tốt trên tất cả các mặt. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Liên khu ủy 5, các đảng bộ và chính quyền các cấp đã luôn nêu cao tinh thần chăm lo phát triển các mặt như giáo dục văn hóa cho đồng bào, mở trường học, xóa nạn mù chữ, mở trường học tập trung cho con em các dân tộc ít người; quan tâm tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, đặc biệt là chỉ thị, nghị quyết của Đảng về đẩy mạnh chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, nêu cao tinh thần yêu nước cho đồng bào, đấu tranh chống lại các luận điệu xâm lược của thực dân Pháp. Những việc làm đó, mặc dù do tác động của chiến tranh nên chưa được nhiều, song những hạt muối Bác Hồ, cái chữ, viên thuốc Bác Hồ là nguồn động viên to lớn, nói lên tính chất chính nghĩa và ưu việt của cách mạng, phân biệt rõ giữa cách mạng với xâm lược, góp phần đập tan những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn gây chia rẽ, tách đồng bào ra khỏi phong trào cách mạng của thực dân Pháp, làm thất bại chính sách chia để trị của chúng, đồng bào Tây Nguyên đã tin theo Đảng, theo Bác Hồ, đoàn kết, sát cánh cùng quân dân cả nước đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Đây chính là nguyên nhân tạo nên sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên Hạn chế - Lãnh đạo chiến tranh du kích ở địa bàn Tây Nguyên có thời điểm còn gặp nhiều lúng túng, đặc biệt trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến Một vấn đề nổi bật trong quá trình phát triển của cuộc kháng chiến ở Tây Nguyên chính là công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng lãnh đạo cuộc kháng chiến. Qua quá trình kháng chiến đã đưa số lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc ở Tây Nguyên ngày càng tăng, ngày càng tiến bộ, trưởng thành kết hợp cùng với đội ngũ cán bộ người Kinh được điều động từ các nơi đến tạo thành một đội ngũ cán bộ đông đảo, bổ trợ cho nhau, gắn bó với 83

90 nhau đã đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến nói chung và chiến tranh du kích ở Tây Nguyên nói riêng ở từng thời điểm còn có những hạn chế và sai sót nhất định, nhất là trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến. Khi thực dân Pháp tổ chức đánh chiếm lên các tỉnh Tây Nguyên, mặc dù có sự chuẩn bị để đối phó với các cuộc đánh chiếm của thực dân Pháp, song do sự chênh lệch quá lớn về lực lượng, nên chỉ sau 2 tháng, thực dân Pháp đã hầu như nắm giữ được hoàn toàn các tỉnh Tây Nguyên. Lúc này, theo chủ trương, tất cả các lực lượng Đảng, Chính quyền, quân đội, đoàn thể nhân dân đều rút hết về đồng bằng, bỏ trống chiến trường. Tuy nhiên, khi rút quân, một số địa phương rút lui không có tổ chức, đã tạo ra một không khí hoang mang trong nội bộ các cơ quan, đơn vị vũ trang và nhân dân. Mặt khác, trong chỉ đạo dân quân du kích chưa kịp thời rút kinh nghiệm về xây dựng các đội du kích, xây dựng các buôn làng chiến đấu, nhất là cách đánh bằng vũ khí thô sơ tự làm để phổ biến kịp thời, nên nhiều đội du kích ở các địa phương, cơ sở lúng túng; tình trạng mất đất, mất dân diễn ra liên tục ở nhiều địa phương kéo dài, nhất là từ năm 1948 đến 1951; một số chính sách, chủ trương do chưa thấu hiểu đặc tính tâm lý, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nên đã phạm vào tín ngưỡng của đồng bào; hoặc chủ quan nóng vội mang tính cưỡng ép, mệnh lệnh bị kẻ địch lợi dụng xuyên tạc gây ra một số hậu quả không tốt. Nhưng với tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nhận ra thiếu sót sai lầm mắc phải trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, cũng như hiện thực hóa chủ trương của Trung ương Đảng về chiến tranh du kích, các cấp uỷ Đảng đã từng bước sửa chữa, xốc lại phong trào, vươn lên giành thắng lợi mới, thể hiện bản lĩnh trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ đảng ở Tây Nguyên trong giai đoạn sau của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. 84

91 - Trong chỉ đạo đấu tranh chống lại các âm mưu, thủ đoạn của địch còn hạn chế, nhất là đấu tranh chống bắt lính và vận động binh lính địch có lúc chưa triệt để. Với điều kiện kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống của đại đa số đồng bào các dân tộc Tây Nguyên còn gặp nhiều khó khăn, lối sống du canh, du cư và mang tính tự cung, tự cấp khép kín, cộng với nhiều hủ tục lạc hậu còn đeo bám đồng bào dai dẳng đã được thực dân Pháp lợi dụng triệt để trong các âm mưu cai trị, biến Tây Nguyên trở thành vùng đất màu mỡ cho nhiều chính sách cai trị thâm độc. Với luận điệu đất Cao Nguyên là của người Thượng, ngay từ năm 1912, chúng đã rêu rao luận điệu: Đất Thượng của người Thượng, đất nào chúa nấy, người nào có phong tục nấy, ngăn cấm giao lưu văn hoá, làm ăn sinh sống của người Kinh với người dân tộc Tây Nguyên. Đến khi tiến hành cuộc xâm lược lần hai ( ), thực dân Pháp tiếp tục thực hiện chính sách chia rẽ người Kinh với người Thượng, biệt lập Tây Nguyên. Đồng thời xây dựng Tây Nguyên thành một đơn vị quân sự mang sắc thái riêng. Như vậy có thể thấy, xuyên suốt trong âm mưu của thực dân Pháp, Tây Nguyên luôn chiếm một vị trí quan trọng, chúng đặt Tây Nguyên là một đơn vị quân sự ngang hàng với cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Rõ ràng đó là một âm mưu xảo quyệt và thâm độc của thực dân Pháp. Âm mưu và thủ đoạn đó của Pháp đã gây cho phong trào kháng chiến trong những năm ở Tây Nguyên gặp một số khó khăn nhất định [117, tr. 9]. Xuất phát từ những âm mưu thâm độc và thủ đoạn của thực dân Pháp, mặc dù Đảng đã có nhiều cố gắng trong nắm bắt tình hình, chỉ đạo đối phó với những âm mưu đó, song có thời điểm còn hạn chế, mắc phải sai lầm, khuyết điểm, nhất là trong phá âm mưu bắt lính và lập các đơn vị như các ổ vũ trang phản động (GUOM), Atum như trong báo cáo của đồng chí Nguyễn Chánh Bí thư Liên khu uỷ 5 gửi Trung ương có đoạn: Thành công 85

92 của địch không phải là xây dựng được lực lượng chính quy, mà là phát triển được các ổ GOUM chống lại ta [132, tr. 160]. Tuy nhiên, sau khi nắm được các âm mưu này của địch, thì lại lúng túng trong xử lý, dẫn đến sai lầm tả khuynh hoặc hữu khuynh trong cách giải quyết ở một số địa phương [34, tr. 64], đặc biệt trong những năm Cùng với đó, công tác chống bắt lính, vận động binh lính địch, nhất là binh lính là người dân tộc cũng như gia đình người thân còn gặp nhiều khó khăn trong cách giải quyết, nên chưa phá được kế hoạch xây dựng khối nguỵ quân là người dân tộc mà địch dựng lên. Dựa vào lực lượng này, thực dân Pháp đã xây dựng ở Tây Nguyên được một khối nguỵ quân đông đảo, là nguồn bổ sung quân số đáng kể cho lực lượng chính quốc, mục đích sâu xa hơn là thông qua khối nguỵ quân này, thực dân Pháp đã kích động hận thù dân tộc, khoét sâu hơn, rộng hơn cái hố chia rẽ giữa Kinh - Thượng trong âm mưu chia để trị của chúng. Trong những năm từ 1945 đến cuối năm 1949, ta đối phó với các âm mưu này còn rất hạn chế, cán bộ địch nguỵ vận còn yếu và mỏng, phân tán chưa có hiệu quả trong công tác vận động binh lính là người dân tộc và gia đình người thân của họ. Đến năm 1950, cơ quan công tác địch nguỵ vận các cấp mới bắt đầu được tăng cường cán bộ, nhất là cán bộ có năng lực phụ trách những vùng khó khăn, nguy hiểm. Các cấp từ xã đến huyện, tỉnh đều có một đồng chí trong Thường vụ Ban cán sự được phân công theo dõi, chỉ đạo công tác địch, ngụy vận, nhất là ở cấp xã và huyện thành lập hội đồng địch vận quân dân chính do Phó Bí thư hoặc Thường vụ Ban cán sự làm chủ tịch. Cấp ủy Đảng chỉ đạo chặt chẽ và huy động đông đảo các ngành các giới vào việc tuyên truyền, vận động trong nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng về công tác vận động binh lính và gia đình họ. Tuy nhiên, kết quả của công tác này vẫn còn chưa được thực hiện triệt để, vẫn còn một bộ phận đồng bào các dân tộc, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa vẫn được thực dân Pháp lợi dụng sử dụng làm lực lượng tay chân cho chúng trong suốt cuộc kháng chiến 86

93 Như vậy, có thể thấy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Tây Nguyên, nhất là giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, do chưa có sự chuẩn bị kỹ lượng về mọi mặt, nên ở Tây Nguyên, địch đã thực hiện được nhiều âm mưu thâm độc trong chính sách chia để trị, nhất là sử dụng người dân tộc vào bộ máy và đội quân xâm lược của thực dân Pháp, gây không ít khó khăn cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta Bài học kinh nghiệm Nắm bắt đặc điểm tình hình địa bàn, kịp thời có những chủ trương, biện pháp phù hợp với Tây Nguyên Thường xuyên nắm bắt đặc điểm tình hình địa bàn, kịp thời có những chủ trương, biện pháp phù hợp với đặc điểm địa bàn Tây Nguyên là một trong những nhiệm vụ quan trọng, không chỉ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chống Mỹ mà nó xuyên suốt qua các thời kỳ lịch sử. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ), Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, thường xuyên có chỉ đạo nắm bắt tình hình địa bàn, cũng như kịp thời có nhiều chủ trương biện pháp phù hợp để lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân các tỉnh Tây Nguyên giành thắng lợi. Tây Nguyên là một khu vực địa lý dân tộc rộng lớn, nhưng mới chỉ là một bộ phận của cao nguyên miền Nam Đông Dương. Cùng với vùng Đông Bắc Campuchia, Hạ Lào hợp thành một khu vực địa lý, văn hóa, dân tộc được xem như mái nhà chung của ba nước Đông Dương. Chính vì thế, Tây Nguyên luôn được coi là một khu vực có vai trò, vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Có thể chế ngự miền Duyên hải Trung Bộ về phía Đông, cùng lưu vực đồng bằng sông Cửu Long về phía Tây và Tây Nam, vừa có thế liên hoàn, nối liền chiến trường ba nước Đông Dương: Việt Nam, Lào và Campuchia, cho nên chiếm giữ được khu vực này thì cũng dễ dàng chiếm giữ được toàn bộ Đông Dương. Xuất phát từ vị trí vô cùng lợi hại đó của Tây Nguyên, trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, đây là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta 87

94 và địch. Để chiếm được địa bàn chiến lược này, thực dân Pháp luôn tìm mọi cách để giành giật địa bàn Tây Nguyên. Nếu như trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ nhất, thực dân Pháp đã tìm mọi cách để kiểm soát Tây Nguyên nhằm bảo vệ Đông Dương, thì đến cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai, mặc dù đuối sức không có khả năng với tới 4 tỉnh đồng bằng Liên khu 5, nhưng chúng vẫn mạo hiểm rải quân chiếm giữ Tây Nguyên. Để thực hiện được mưu đồ đó, quân xâm lược Pháp đã phải thực hiện rất nhiều âm mưu thâm độc để có thể tách Tây Nguyên ra khỏi Nam Trung Bộ, thành lập cái gọi là Xứ Tây Kỳ tự trị, gieo rắc thủ đoạn thâm độc đối với đồng bào Tây Nguyên, hòng dễ bề cai trị và cô lập đồng bào các tỉnh Tây Nguyên ra khỏi phong trào đấu tranh cách mạng. Về ta, ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân xâm lược Tây Nguyên, để chuẩn bị mọi mặt cho cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, cũng như động viên tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào nơi đây, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt coi trọng vị trí chiến lược của Tây Nguyên. Trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số ở miền Nam tại Pleiku, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê đê, Xơđăng hay Bana và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau [132, tr. 72]. Điều đó đã khẳng định, không những Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng vị trí chiến lược Tây Nguyên mà còn nêu bật vai trò quan trọng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong tiến trình đấu tranh cách mạng của dân tộc. Không những thế, xuyên suốt cuộc kháng chiến, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng theo dõi, nắm bắt tình hình, kịp thời chỉ đạo và có những biện pháp phù hợp với đặc điểm tình hình địa bàn Tây Nguyên; có cái nhìn toàn diện về Tây Nguyên cũng như nhận thức được Tây Nguyên là một trong những chiến trường chính, trọng điểm cần tập trung sức vào địa bàn này, kiên quyết đấu tranh với địch để giành đất giành dân; làm tốt chính sách 88

95 đại đoàn kết dân tộc, ra sức vận động tuyên truyền đồng bào tham gia kháng chiến; đồng thời luôn coi đây là địa bàn giữ vị trí quan trọng, có tính quyết định trong đấu tranh quân sự. Việc này được minh chứng rất rõ là trong chiến cuộc Đông Xuân , Đảng đã chủ trương mở các chiến dịch tiến công vào các hướng quan trọng về chiến lược, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của chúng, giải phóng đất đai, đồng thời buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa bàn xung yếu mà chúng không thể bỏ, do đó phải phân tán binh lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm những bộ phận sinh lực của chúng [43], thì Tây Nguyên được chọn là một trong các hướng quan trọng đó, buộc đối phương phải phân tán lực lượng đối phó ở Tây Nguyên, ta có điều kiện phân tán đánh địch, góp phần vào chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Không những trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà ngay cả sau này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng đã đặc biệt coi trọng vị trí chiến lược Tây Nguyên, coi đây là địa bàn có nhiều ưu thế để xây dựng lực lượng, là nguồn cung cấp, tiếp tế, là bàn đạp tiến công của lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ trang, góp phần giành thắng lợi, kết thúc 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ngày nay, với vị trí chiến lược đó, Đảng, Nhà nước ta đã đặc biệt coi trọng Tây Nguyên trong vấn đề xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tạo ra lá chắn vững chắc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Luôn chăm lo, xây dựng và củng cố tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên là người dân tộc thiểu số để lãnh đạo chiến tranh du kích Thực tiễn thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược ( ) của nhân dân ta trên phạm vi cả nước nói chung, địa 89

96 bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng, trước hết bắt nguồn từ đường lối chính trị và quân sự đúng đắn của Đảng; là sự vận dụng sáng tạo trong từng điều kiện ở địa bàn cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu thắng lợi. Đảng không ngừng xây dựng các tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên ngang tầm với sự phát triển của cuộc kháng chiến, kịp thời lãnh đạo chiến tranh du kích, đáp ứng tình hình trên địa bàn Tây Nguyên. Ngay từ đầu của cuộc kháng chiến, là địa bàn chiến lược, nhưng một số địa phương chưa có cấp uỷ. Nắm bắt tình hình này, Khu ủy 5 đã cử cán bộ xuống, cùng một số đảng viên tại chỗ hình thành chi bộ Đảng tạm thời làm nhiệm vụ lãnh đạo toàn tỉnh. Tháng 12 năm 1945, thành lập tỉnh uỷ lâm thời Gia Lai, tháng 2 năm 1946 thành lập tỉnh uỷ lâm thời Kon Tum, kịp thời lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc. Công tác phát triển đảng viên, xây dựng chi bộ các tỉnh uỷ, huyện uỷ được coi trọng, bằng nhiều biện pháp, các tỉnh uỷ, huyện uỷ đã tổ chức nhiều lớp ngắn hạn để kịp thời bồi dưỡng về trình độ và năng lực cho đảng viên, các bộ, các ngành, các giới, các địa phương; những lớp học ngắn hạn này do các đồng chí lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện giảng bài, nói chuyện. Nhờ vậy, đội ngũ đảng viên được tăng lên cả số lượng và chất lượng, là nhân tố quan trọng góp phần đưa cuộc kháng chiến của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tiến tới. Xuất phát tự vị trí chiến lược, giữ được Tây Nguyên sẽ án ngự được miền nam Đông Dương, địch đã sử dụng nhiều chiêu bài thâm độc để chia rẽ đồng bào; địa bàn bị chia cắt, đời sống của đồng bào còn nhiều gặp nhiều khó khăn, các hủ tục lạc hậu vẫn còn duy trì phổ biến. Trong điều kiện như vậy, muốn phát triển phong trào chiến tranh du kích, động viên toàn dân đánh giặc, công tác hàng đầu là phải đặc biệt chăm lo xây dựng Đảng, mà trọng tâm là xây dựng Đảng bộ và Chi bộ cơ sở. Tại Hội nghị chiến tranh du kích tháng 7 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: Phải biết rằng nếu tổ chức Đảng mạnh thì mọi công việc đều chạy [95, tr. 524]. Thấm nhuần tư tưởng đó, các 90

97 cấp uỷ Đảng đã quan tâm xây dựng tổ chức đảng và đội ngụ đảng viên của cấp mình ngày một nâng lên, đáp ứng cả số lượng và chất lượng. Chiến tranh du kích ở Tây Nguyên chủ yếu diễn ra ở buôn làng, nương rẫy, không có cơ sở Đảng vững mạnh, không thể có sức mạnh tổng hợp tại chỗ để giữ vững và phát triển ngày càng mạnh mẽ phong trào du kích chiến tranh. Tổ chức Đảng ở cơ sở là cấp trực tiếp hàng ngày lãnh đạo quần chúng, trực tiếp chiến đấu một mất, một còn với quân xâm lược, đồng thời là đội xung kích trong đánh địch ở buôn làng. Thực tiễn chiến đấu đã chứng minh, khi khu căn cứ du kích như Stơr liên tục bị địch bao vây đánh phá, thường xuyên đói cơm, thiếu muối, nhiều lúc không liên lạc được với cấp trên, Chi bộ Đảng gồm 13 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân bám núi rừng, nương rẫy, vừa chiến đấu vừa sản xuất, 9 lần rời làng để đánh giặc. Khu du kích Măng Yệu, Chí Lai trong những năm đầu kháng chiến, nhiều lần bị địch đánh phá ác liệt, không giữ được phong trào, nhưng từ khi có Chi bộ Đảng, tuy bị địch đánh phá ác liệt hơn trước đó, song phong trào không những được giữ vững mà ngày càng phát triển, trở thành khu du kích mạnh, một căn cứ bàn đạp cho các lực lượng đang hoạt động trên hướng Đồng Nai Thượng. Từ thực tiễn 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp đã chứng minh, chiến trường Tây Nguyên là một trong những chiến trường địch hậu cực kỳ gay go và phức tạp, cực kỳ gian khổ thiếu thốn, cán bộ, đảng viên phải chịu nhiều khó khăn mà các chiến trường khác ít hoặc không có, nên diễn biến cũng có điểm phức tạp hơn; một nhiệm vụ quan trọng là phải kịp thời quán triệt đường lối chủ trương, phương châm chính sách của Đảng đến đồng bào; thường xuyên giáo dục về vị trí quan trọng của địa bàn chiến lược, về yêu cầu bám đất, bám dân, bám cơ sở cho cán bộ, đảng viên - là yêu cầu cấp thiết nhất đối với tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên ở Tây Nguyên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích. Đó cũng thể hiện ý chí, bản lĩnh chiến đấu của đội ngũ đảng viên và cũng là thể hiện sự thành công của công tác xây 91

98 dựng Đảng ở Tây Nguyên, thành công đó là nhân tố cơ bản bảo đảm đưa chiến tranh du kích Tây Nguyên đi đến thắng lợi. Nét đặc trưng nổi bật của công tác xây dựng Đảng lãnh đạo chiến tranh du kích ở Tây Nguyên trong 9 năm kháng chiến là đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ, đảng viên người dân tộc thiểu số, lực lượng tại chỗ, làm cơ sở để lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến trên địa bàn Tây Nguyên. Từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến, Tây Nguyên là địa bàn mà cơ sở Việt Minh còn yếu ớt, đặc biệt đội ngũ cán bộ, đảng viên công tác trong các tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cũng như trong các tổ chức đoàn thể, lực lượng vũ trang chủ yếu cán bộ là người Kinh và từ các nơi khác điều, chuyển đến; lực lượng này đã được sự giáo dục, rèn luyện và gắn bó chặt chẽ với Tây Nguyên. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu ngày càng phát triển, các mặt công tác ngày một mở rộng, nhu cầu cán bộ ngày càng nhiều, đội ngũ cán bộ điều, chuyển từ các nơi khác đến không thể nào đáp ứng được. Sớm nhận rõ điều này, ngay từ đầu và suốt 9 năm kháng chiến, Trung ương Đảng, mà trực tiếp là Liên khu uỷ 5 và các tỉnh Đảng bộ Tây Nguyên luôn quan tâm đến công tác tổ chức, bố trí và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tại chỗ, cán bộ là người dân tộc thiểu số đáp ứng một phần không nhỏ vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến. Thực tế, ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, trong các tổ chức hội đồng nhân dân các cấp ở các địa phương, việc bố trí cán bộ người dân tộc được Đảng bộ các địa phương đặc biệt chú ý. Ở Gia Lai, trong số 17 uỷ viên hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã có 12 đại biểu là người dân tộc; Đắk Lắk đồng chí Ngông Nie Kdăm, Ywang Mlô Duôn Du người Ê Đê được bầu vào Quốc hội khoá I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Song, nhìn nhận một cách khách quan thì các công việc vẫn chủ yếu do người Kinh đảm nhiệm. Trước tình trạng đó, để có đội ngũ cán bộ tại chỗ có trình độ, năng lực và nắm được các phương thức lãnh đạo, Đảng đã có sự kết hợp nhiều hình thức, trong đó đã nhanh chóng chỉ đạo các Đảng bộ, Chính quyền, mặt trận các cấp 92

99 mở các trường, lớp tập trung vừa giáo dục nâng cao trình độ văn hoá, vừa bồi dưỡng về chính trị cho những thanh niên có nhiệt tình, hăng hái để bồi dưỡng họ thành những cán bộ cốt cán trong phong trào quần chúng ở cơ sở. Ở các ngành, các lực lượng đều có các trường để đào tạo cán bộ cho ngành của mình; lực lượng vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập khi luồn sâu vào hoạt động trong lòng địch đều chú ý đưa thanh niên ở nơi đó về hậu cứ để đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện đội ngũ này thành cán bộ, chiến sĩ của đơn vị mình, hoặc sau đó đưa về làm nòng cốt cho phong trào địa phương. Các đơn vị vũ trang tập trung người dân tộc như tiểu đoàn Nơ Trang Lơng, Đại đội Đinh Đ Rong (sau tách thành Đại dội Y Bin Bắc và Y Bin Nam) cũng là nơi đào tạo, bồi dưỡng rèn luyện được nhiều cán bộ cho phong trào kháng chiến ở Tây Nguyên; nhiều người đã tiến bộ và trở thành những cán bộ cốt cán, giữ những vị trí lãnh đạo chủ chốt về Đảng, chính quyền, đoàn thể, lực lượng vũ trang địa phương. Xây dựng tổ chức Đảng và đội ngũ đảng viên, đặc biệt là đội ngụ cán bộ đảng viên tại chỗ là đồng bào dân tộc để lãnh đạo, chỉ đạo quần chúng là một bài học chung trong xây dựng Đảng, nhưng đối với Tây Nguyên bài học này có giá trị vô cùng quan trọng, không chỉ trước đây trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mà ngay cả tình hình hiện nay cần có chính sách xây dựng các tổ chức Đảng, đội ngũ Đảng viên có đủ năng lực, phẩm chất, có số lượng hợp lý, chất lượng, cơ cấu phù hợp để lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn địa bàn, góp phần cùng cả nước bảo vệ công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Xây dựng lực lượng, căn cứ, làng bản chiến đấu và động viên toàn dân tham gia chiến tranh du kích Xuất phát từ đặc điểm địa bàn, thường xuyên phải đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt, với thú giữ, với mọi kẻ thù nên người dân Tây Nguyên từ già đến trẻ, từ phụ nữ đến trẻ em đều luôn có một thứ vũ khí tuỳ thân mang 93

100 theo bên người khi đi làm nương rẫy, đồng bào đều biết cắm chông, gài thò, làm bẫy thú Khi phải đối phó với mọi điều hiểm nguy, một kẻ thù nào, cả buôn, cả làng đều tham gia chiến đấu. Phương châm toàn dân vũ trang, toàn dân đánh giặc của Đảng đã nhanh chóng thuấn nhuần trong mỗi người dân Tây Nguyên, trở thành thế mạnh của chiến tranh du kích nơi đây. Trong những năm đầu kháng chiến, lực lượng chiến đấu ở Tây Nguyên chủ yếu là các chi đội (tương đương Trung đoàn) quân Nam tiến. Lực lượng này vừa làm nhiệm vụ tác chiến tập trung tiêu hao ngăn chặn từng bước, vừa phân tán phối hợp cùng với các đoàn cán bộ gây cơ sở xây dựng phong trào theo phương thức: đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. Trên cơ sở lực lượng chính trị đã được xây dựng, các đơn vị dân quân du kích từng bước hình thành. Từ cuối năm 1949, ở những địa phương có phong trào du kích phát triển khá, số lượng du kích đông, lực lượng du kích chia thành hai bộ phận thoát ly sản xuất và không thoát ly sản xuất. Lực lượng du kích thoát ly sản xuất là lực lượng du kích tập trung của xã, huyện, quy mô tổ chức thường tiểu đội, trung đội; các đội du kích này thường xuyên tập trung để làm nhiệm vụ chiến đấu trong xã (nếu là du kích tập trung của xã), trong huyện (nếu là du kích tập trung của huyện); xét về mặt chức năng các đội du kích này gần như là bộ đội địa phương, nhất là các trung đội du kích tập trung của huyện thì chức năng bộ đội địa phương càng rõ ràng. Lực lượng du kích không thoát ly sản xuất phát triển tương đối rộng rãi bao gồm các thanh niên nam nữ, các tầng lớp trung niên hăng hái tự nguyện tham gia, là nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc giữ buôn rẫy, bố phòng tăng gia sản xuất; lực lượng này tuy gọn nhỏ từng tổ, tiểu đội gắn liền với các nhóm nhân dân kháng chiến, khu vực tản cư, khu vực làm rẫy. Ngoài lực lượng dân quân du kích có tổ chức, lực lượng đánh địch ở buôn làng Tây Nguyên còn bao gồm phần lớn các từng lớp nhân dân trong buôn, làng. Số này lúc thường thì tham gia cắm chông, gài bẫy, làm thò, v.v. 94

101 lúc chiến đấu thì nắm địch, dẫn đường, hoặc dùng cung nỏ đánh địch thành thạo không kém số dân quân du kích trong tổ chức. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trở ngại nhưng nguyên tắc tổ chức có lực lượng nòng cốt, có lực lượng rộng rãi, có dân quân du kích làm nòng cốt cho phong trào toàn dân đánh giặc ở cơ sở, đồng thời có lực lượng quần chúng đông đảo tham gia đánh giặc. Qua quá trình chiến đấu, hình thức tổ chức cũng dần dần phù hợp với đặc điểm chiến trường, có du kích xã, có du kích tại chỗ - du kích tập trung, du kích mật. Về trang bị, trong điều kiện cực kỳ khó khăn của cả nước, cũng như của Liên khu 5, ngay cả bộ đội chủ lực Liên khu cũng có lúc chưa được trang bị súng đạn theo biên chế quy định; vũ khí của du kích Tây Nguyên chủ yếu là vũ khí thô sơ do nhân dân tự sản xuất. Tuy vậy, đây lại là thế mạnh, là sở trường của các dân tộc Tây Nguyên. Cùng với quá trình xây dựng lực lượng, Đảng đã chủ trương xây dựng các căn cứ, làng bản chiến đấu, động viên toàn dân tham gia vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Làng xã chiến đấu ở Tây Nguyên được xây dựng và trở thành chỗ dựa vững chắc của dân quân du kích, của nhân dân chống lại các cuộc càn quét, đánh phá của địch, giữ vững quyền làm chủ núi rừng, đồng thời, làng bản chiến đấu là bàn đạp đứng chân của các đội vũ trang công tác, vũ trang tuyên truyền, để phát huy xây dựng cơ sở chính trị, nhất là ở vùng sâu, vùng xa phía Tây Đường 14, Đường 20, phía Nam Đường 21, tạo thế liên hoàn trong đánh địch. Cùng với đó, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các cấp bộ đảng ở Tây Nguyên đã biết phát huy vai trò của các già làng, những người có uy tín vào việc tập hợp lực lượng cũng như xây dựng thế trận chiến tranh du kích, bảo vệ thôn, làng, vận động nhân dân đi theo Đảng, Bác Hồ. Đây là những người có uy tín, được suy tôn, đứng đầu làng, đại diện cho làng quyết định những vấn đề hệ trọng của làng, cũng như trong giải quyết mối quan hệ và giải quyết những vấn đề cuộc sống hàng ngày. Xuất phát từ vai trò to lớn đó, Đảng đã biết vận động, phát huy của lực lượng này vào 95

102 kháng chiến chống Pháp, tiêu biểu nhất là ở làng chiến đấu Sitơr, dưới sự chỉ huy của đồng chí Núp, làng đã 9 lần dời, thay đổi thế bố trí làng để đối phó với sự càn quét của thực dân Pháp Ngày nay, trước diễn biến của tình hình cả nước nói chung, Tây Nguyên nói riêng, thì bài học này vẫn còn nguyên giá trị để tiếp tục phát huy vai trò của già làng, những người có uy tín trong làng, bản, thôn, buôn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Họ tiếp tục là lực lượng nòng cốt, là đầu mối quan trọng giữa cấp ủy, chính quyền và nhân dân, tích cực vận động bà con, nhân dân không nghe, không tin và không theo kẻ xấu chống phá mối đoàn kết trong nhân dân Vì vậy, cần tiếp tục phát huy tốt vai trò của lực lượng này trong xây dựng thế trận an ninh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc. Những căn cứ, buôn làng chiến đấu ở Tây Nguyên thường dựa vào phong tục tập quán của nhân dân để tổ chức bố phòng căn cứ, làng bản chiến đấu. Các căn cứ, làng bản chiến đấu rất đa dạng, phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa bàn cụ thể. Các căn cứ kháng chiến như Chư Djũ - Dlei Ya của tỉnh Đắk Lắk trở thành nơi đứng chân của các lực lượng và là nơi cung cấp nhân vật lực cho cuộc kháng chiến của tỉnh Đắk Lắk trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; căn cứ Mang Yệu - Chí Lai tỉnh Lâm Đồng được xây dựng năm Tại đây, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể khá mạnh, chi bộ xã Chí Lai có 26 đảng viên, chi bộ xã Mang Yệu có 18 đảng viên, lực lượng du kích chiến đấu chiếm 20% dân số. Hai xã Chí Lai và Mang Yệu đã trở thành vùng căn cứ, làm bàn đạp cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Tây Nguyên. Ngoài các căn cứ kháng chiến đó, ở Tây Nguyên cũng xây dựng được một hệ thống làng, bản chiến đấu mang màu sắc riêng của đồng bào Tây Nguyên. Làng chiến đấu ở Tây Nguyên thường được xây dựng ở những địa bàn như ở vùng núi cao: làng Sốp Dùi (Kon Tum), làng Stơr (Gia Lai)..., làng bản chiến đấu ở các cao nguyên thung lũng: làng Ya Hội (nam An Khê) tạo ra lá chắn ngăn chặn các cuộc càn quét của địch và là chỗ dựa vững chắc cho lực lượng vũ trang, các cơ quan đoàn 96

103 thể tổ chức, huấn luyện, chỉ huy chiến đấu. Bằng những hình thức này, các căn cứ, làng bản chiến đấu Tây Nguyên đã động viên được đông đảo đồng bào vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Kết hợp chặt chẽ giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giành ưu thế tiến công chiến lược Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, nhân dân ta đã sử dụng rất hợp lý các phương thức chiến tranh. Đó là từ chiến tranh du kích tến lên chiến tranh chính quy và kết hợp chiến tranh chính quy với chiến chiến tranh du kích để giành ưu thế tiến công chiến lược. Quán triệt chủ trương đó của Trung ương Đảng, các cấp ủy Đảng địa phương Tây Nguyên đã vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình của địa bàn. Trong điều kiện quân địch còn mạnh, chiến tranh du kích ở Tây Nguyên đã góp phần kiềm chế và phân tán, căng kéo lực lượng của địch làm giảm sút tỷ lệ quân cơ động của chúng tạo nên thế chiến lược cho ta có điều kiện đẩy mạnh tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực Liên khu, thực hiện những trận đánh tiêu diệt ngày càng lớn. Trong điều kiện lực lượng vũ trang Liên khu 5 còn nhỏ bé, do vậy chỉ có thể dùng chiến tranh du kích tiến công địch để tiêu hao chúng về chiến lược. Do đó, trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, ở Tây Nguyên đã vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng, phát động chiến tranh du kích đánh địch rộng khắp, tạo điều kiện để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, gây cho chúng những tổn thất và khó khăn về vũ khí cũng như làm hoang mang tư tưởng binh lính địch, ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị đánh bất thần. Trong cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài ở nước ta nói chung, ở Tây Nguyên nói riêng, việc đề cao vai trò chiến lược của chiến tranh du kích, phát động chiến tranh du kích rộng khắp để huy động sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng tiến hành kháng chiến mới chỉ là bước đầu. Cùng với quá trình vận động của cuộc kháng chiến, sức mạnh tổng hợp của mọi lực lượng sẽ không ngừng phát triển. Để tập hợp, huy động được tối đa sức mạnh đó, phải từng 97

104 bước phát triển lên chiến tranh chính quy. Sự ra đời của chiến tranh chính quy với các đơn vị bộ đội chủ lực nhằm giáng những đòn tiêu diệt đội quân chủ lực, lực lượng quân sự lớn mạnh của địch; cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân đẩy mạnh cuộc đấu tranh mọi mặt trong vùng địch kiểm soát; giải phóng đất đai, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, từng bước đánh gục ý chí xâm lược của địch. Đây là phương thức chủ yếu, quyết định việc giành thắng lợi triệt để trong đấu tranh vũ trang, phản ánh rõ sự kết hợp biện chứng giữa tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ, giành quyền làm chủ và tiêu diệt địch; được sử dụng ở những thời cơ quan trọng nhất, trên những hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu để đánh bại kẻ thù và tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giành thắng lợi hoàn toàn. Phát triển chiến tranh chính quy không có nghĩa là từ bỏ chiến tranh du kích mà phải có kết hợp chặt chẽ hai phương thức này. Sự kết hợp chặt chẽ hai phương thức chiến tranh du kích và chính quy sẽ phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc đánh giặc. Ở Tây Nguyên, thời gian đầu, bằng lối đánh của chiến tranh du kích đã phát huy được tác dụng ngăn chặn, làm thất bại nhiều âm mưu thâm độc của kẻ thù đối với đồng bào, góp phần tạo ra thế đứng chân vững chắc để các tổ chức đoàn thể ra đời, đứng chân. Khi điều kiện đến, Đảng chủ trương kết hợp vừa đẩy mạnh chiến tranh du kích, kết hợp với chiến tranh chính quy (có sự tham gia của lực lượng bộ đội chủ lực) để tiến hành các cuộc chiến đấu, chống lại các cuộc hành quân càn quét, các cuộc dồn dân hay là đánh phá các trục đường giao thông có giá trị về mặt chiến lược, hay mở các chiến dịch lớn đánh địch để mở rộng căn cứ, mở rộng ảnh hưởng của lực lượng cách mạng. Một số chiến dịch tiêu biểu cho sự kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy ở Tây Nguyên như chiến dịch An Khê (1.1953) có sự phối hợp của ba thứ quân, phối hợp toàn chiến trường Liên khu 5. 98

105 Như vậy có thể thấy, thành công trong chỉ đạo đấu tranh và chiến lược quân sự của cả nước nói chung, ở chiến trường Tây Nguyên nói riêng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là thành công của việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ, phối hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, làm cho cả hai phương pháp đấu tranh vũ trang cơ bản này luôn kết hợp chặt chẽ với nhau để phát huy sức mạnh tổng hợp của ba thứ quân, giữa quân sự và chính trị trong sức mạnh của toàn dân, của cả tác chiến du kích và tác chiến tập trung trong kháng chiến lâu dài [9, tr ], là nhân tố góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược. Bài học này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, phù hợp với điều kiện tình hình nước ta, nếu trong tương lai có chiến tranh xẩy ra. Tiểu kết chương Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là của Liên khu ủy 5 và Đảng bộ địa phương ở Tây Nguyên đã lãnh đạo, chỉ đạo đồng bào các dân tộc Tây Nguyên tiến hành kháng chiến, đẩy mạnh các hoạt động chiến tranh du kích, góp phần cùng quân dân cả nước làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Thắng lợi của chiến tranh du kích ở Tây Nguyên trong kháng chiến chống thực dân Pháp là kết quả của quá trình lãnh đạo đúng đắn của các cấp bộ Đảng, là kết tinh của tinh thần đoàn kết, sát cánh chiến đấu, tinh thần anh dũng hi sinh của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên vào sự nghiệp chống ngoại xâm của cả dân tộc. Trong quá trình lãnh đạo chỉ đạo của Đảng cũng như quá trình triển khai thực hiện chiến tranh du kích ở Tây Nguyên tuy còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế nhất định. Song cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệp quý báu có giá trị về cả lý luận và thực tiễn để vận dụng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn Tây Nguyên. 99

106 KẾT LUẬN Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược , nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều phương thức chiến tranh đánh lại cuộc chiến tranh phi nghĩa, trong đó Chiến tranh du kích là một trong những phương thức tiến hành chiến tranh hiệu quả, phù hợp với đặc điểm tình hình nước ta, mang lại nhiều kết quả trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Chiến trường Tây Nguyên là một trong những chiến trường điển hình trong cả nước về hoạt động chiến tranh du kích. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Liên khu uỷ 5 đã chỉ đạo các tỉnh nhanh chóng phát động quần chúng xây dựng cơ sở, từng bước xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận chiến tranh du kích. 1. Ngay sau khi giành được độc lập, ở các tỉnh Tây Nguyên, một số cơ sở chính quyền chưa được thiết lập; khi cuộc kháng chiến nổ ra, lại là địa bàn trọng yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với âm mưu của kẻ thù. Để đẩy nhanh chiếm đóng, gò ép, phá cơ sở cách mạng, lôi kéo nhân dân, thực dân Pháp đã tiến hành nhiều biện pháp thâm độc nhằm thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, chia rẽ người Kinh với người Thượng, để dễ bề thống trị. Cùng với đó, chúng còn ra sức thực hiện chính sách dồn dân, bắt lính làm công cụ để thực hiện mưu đồ lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, từ chỗ khống chế đến cắt đứt và phá các cơ sở cách mạng của ta. Tuy vậy, nhân dân các dân tộc Tây Nguyên đã nhanh chóng khắc phục khó khăn, với truyền thống đấu tranh kiên cường, tin theo Đảng, theo Bác Hồ, đồng bào đã từng bước làm thất bại các âm mưu của địch; từ cơ sở cách mạng còn non yếu, hoặc bị kẻ thù phá hoại đến chỗ đã xây dựng được một số căn cứ du kích, các làng chiến đấu ở các tỉnh, các đội vũ trang du kích là những minh chứng cho tinh thần đấu tranh, ý chí kiên cường và tình đoàn kết của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. 100

107 2. Bằng đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, sự chỉ đạo tập trung, kịp thời và nhạy bén của Trung ương Đảng đối với chiến trường cả nước nói chung, đối với Tây Nguyên nói riêng đã từng bước đưa phong trào kháng chiến đi lên, tiến hành xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng kháng chiến, kịp thời chỉ đạo Liên khu ủy 5 và Đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên làm tốt công tác vận động, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đồng bào những chủ trương, chính sách của Đảng, cũng như vạch trần các âm mưu thủ đoạn của thực dân Pháp để nhân dân đứng lên kháng chiến. Căn cứ vào đường lối kháng chiến của Đảng, mặc dù là chiến trường nằm sâu trong lòng địch, lại xa Trung ương, xa hậu phương cách mạng của cả nước và là địa bàn mà Pháp tập trung thực hiện nhiều âm mưu thâm độc nhằm tách đồng bào Tây Nguyên ra khỏi phong trào cách mạng, nhưng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Liên khu ủy 5, của đảng bộ các tỉnh Tây Nguyên đã từng bước kịp thời bám sát đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Trung ương Đảng để kịp thời chỉ đạo chiến tranh du kích phù hợp với đặc điểm, tình hình từng địa phương nhằm đẩy mạnh hoạt động kháng chiến toàn dân, toàn diện; từng bước làm thất bại nhiều âm mưu thâm độc của thực dân Pháp, nhất là âm mưu lập xứ Tây kỳ tự trị, nhằm tách Tây Nguyên ra khỏi phong trào cách mạng Việt Nam, cũng như làm thất bại các âm mưu giành đất, giành dân trong những năm , âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh dùng người bản xứ trị người bản xứ, đặc biệt là âm mưu lập các ổ vũ trang phản động (GOUM) để khống chế, chia cắt giữa người Kinh với người Thượng, gây thù hằn dân tộc, tạo ra những yếu tố thuận lợi trong quá trình cai trị và xâm lược của thực dân Pháp đối với cả nước nói chung, địa bàn Tây Nguyên nói riêng, nhanh chóng tạo dựng được thế trận chiến tranh du kích từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từng bước khắc phục khó khăn, gian khổ, đưa cuộc kháng chiến ở Tây Nguyên đi lên giành thế tiến công chiến lược. 101

108 3. Cùng với những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về chiến tranh du kích là tinh thần yêu nước, lòng quyết tâm sắt đá của quân và dân cả nước nói chung, Tây Nguyên nói riêng đã giáng cho thực dân Pháp những đòn chí tử, làm thất bại nhiều âm mưu thủ đoạn nham hiểm của chúng, góp phần to lớn, quyết định thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Điều này thể hiện rõ ở chỗ, khi bắt đầu cuộc kháng chiến, Tây Nguyên là địa bàn gặp nhiều khó khăn, chính quyền cách mạng ở một số nơi còn non trẻ hoặc chưa được thiết lập so sánh lực lượng quá chênh lệch, không đủ sức đánh bại các cuộc tiến công ồ ạt của địch, nhưng với lòng quyết tâm sắt đá cũng như tinh thần yêu nước, yêu quê hương bản làng, và tinh thần thượng đạo của đồng bào Tây Nguyên đã kiên quyết ngăn chặn bước tiến của địch, bảo toàn lực lượng, từng bước chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Trải qua quá trình chiến đấu, quân và dân Tây Nguyên đã trải qua biết bao gian lao thử thách, đã chịu nhiều mất mát hi sinh, nhưng vẫn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, một lòng đoàn kết đứng vững và từng bước cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chỉ thị nghị quyết về chiến tranh du kích của Đảng và triển khai một cách nghiêm túc, khẩn trương, sáng tạo phù hợp với từng tỉnh, từng vùng trong một tỉnh để tạo ra thế cài răng lược, xen kẽ với địch trong vùng địch tạm chiếm; tạo ra thế trận bao vây, tiến công quân địch bằng một hệ thống căn cứ du kích, khu du kích liên hoàn nối liền giữa các tỉnh với nhau và giữa các vùng trong một tỉnh chi viện cho nhau và giữa chiến trường Tây Nguyên với chiến trường toàn quốc. Cùng với đó, thấm nhuần chủ trương của Đảng, quân dân Tây Nguyên đã sớm kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, kinh tế; kết hợp hài hòa giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, giữa đánh nhỏ với dánh lớn, và vận dụng nhuần nhuyễn các hình thức chiến thuật chiến tranh nhân dân, sáng tạo ra nhiều cách đánh phù hợp địa hình và trang bị, vũ khí của địa bàn trong suốt cuộc kháng chiến, tạo ra một thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng hoàn chỉnh, phát huy được sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. 102

109 Trong Đông Xuân , mặc dù Tây Nguyên chưa được giải phóng hoàn toàn, song đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa quan trọng. Về cơ bản, đã giải phóng Bắc Tây Nguyên (giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum; tỉnh Gia Lai được giải phóng 90%, trừ thị xã Pleiku); nhiều vùng rộng lớn của tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng thuộc về cách mạng quản lý. Những thắng lợi đó đã góp phần cùng quân dân cả nước buộc thực dân Pháp phải ngồi vào đám phán ở Hội nghị Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. 4. Qua quá trình lãnh đạo chiến tranh du kích của Đảng đối với chiến trường cả nước nói chung, chiến trường Tây Nguyên nói riêng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ( ) đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá về sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh du kích của Đảng; về đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; về huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; vận dụng cách đánh phù hợp ở từng địa bàn cụ thể cũng như những chủ trương chính sách của Đảng trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh, nhất là đối với đồng bào các dân tộc. Những bài học này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn để vận dụng vào công tác quân sự, quốc phòng, nhất là đối với địa bàn rừng núi, nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít người, tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân vững chắc góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. 103

110 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2002), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk , Nxb CTQG, Hà Nội. 2. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai (2009), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai ( ), Nxb CTQG, Hà Nội. 3. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên (2006), Tây Nguyên trên đường phát triển bền vững, Nxb CTQG, Hà Nội. 4. Ban Dân vận Trung ương (1999), Lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam , (sơ thảo), Nxb CTQG, Hà Nội. 5. Bản đồ hành chính các tỉnh Tây Nguyên. Nguồn: &id=1:ban-do-hanh-chinh-vung-tay-nguyen 6. Bản đồ Vị trí Tây Nguyên trong lãnh thổ Việt Nam. Nguồn: wikimedia.org/wikipedia/vi/e/e4/vietnameseregions_vn.png 7. Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1984), Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo), Tập 1: , Nxb Sự thật, Hà Nội. 8. Ban nghiên cứu Lịch sử quân đội thuộc Tổng cục Chính trị, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội. 9. Ban Tổng kết chiến tranh Trực thuộc Bộ Chính trị (1996), Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội. 10. Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, Hà Nội. 11. Phan Văn Bé (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh với các dân tộc Tây Nguyên, Đại học Quốc gia Hà Nội. 12. Phan Văn Bé (2008), N'Trang Lơng - anh hùng chống Pháp trên cao nguyên Mnông, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 104

111 13. Nguyễn Chí Bền, Vũ Ngọc Bình, Đào Huy Quyền, Nguyễn Minh San (1999), Địa chí Gia Lai, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội. 14. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk (1998), Tổng kết chiến tranh du kích trên chiến trường Đắk Lắk. 15. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai (1993), Gia Lai 30 năm chiến tranh giải phóng. 16. Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum, (1993) Kon Tum 30 năm chiến đấu kiên cường bất khuất. 17. Bộ Quốc phòng - Ban Tổng kết chiến lược (1963), Âm mưu của Pháp ở Đông Dương ( ), Hà Nội. 18. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội. 19. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tập 2, Nxb QĐND, Hà Nội. 20. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1994), Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ , Tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội. 21. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội. 22. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 23. Bộ Quốc Phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (1997), Lịch sử chiến thuật phục kích ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 24. Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2001), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp , Tập 1 Chuẩn bị Toàn quốc kháng chiến, Nxb QĐND, Hà Nội 25. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2002), Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb QĐND, Hà Nội. 105

112 26. Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2005), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp , Tập 2 Toàn quốc kháng chiến, Nxb QĐND, Hà Nội 27. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2005), Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 28. Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2009), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp , Tập 3 Triển khai kháng chiến toàn diện, Nxb QĐND, Hà Nội 29. Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2011), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp , Tập 4 Bước ngoặt của cuộc kháng chiến, Nxb QĐND, Hà Nội. 30. Bộ Quốc Phòng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2014), Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp , Tập 5 Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb QĐND, Hà Nội 31. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2014), Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 10, Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( ), Nxb CTQG, Hà Nội. 32. Bộ Quốc phòng, Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự (2005), Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội. 33. Bộ Tổng tham mưu, Ban tổng kết-biên soạn Lịch sử (1991), Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Pháp , Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 34. Bộ Tổng tham mưu (1998), Chiến tranh du kích trong kháng chiến chống thực dân Pháp ( ). Chuyên đề: Đặc trưng của chiến tranh du kích ở chiến trường Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp, Nxb QĐND, Hà Nội. 106

113 35. Bộ Tổng Tham mưu (1998), Chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Nxb QĐND, Hà Nội. 36. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1986), Khu 5-30 năm chiến tranh giải phóng, Tập 1 Kháng chiến chống thực dân Pháp. 37. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1998), Lịch sử bộ đội đặc công Quân khu 5 ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 38. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 (1999), Lịch sử Trung đoàn 803 chủ lực cơ động Liên khu 5 trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb QĐND, Hà Nội 39. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 Viện Lịch sử quân sự Việt Nam (2002), Tổng kết chiến thuật của lực lượng vũ trang Quân khu 5 trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 40. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 - Tỉnh uỷ Lâm Đồng (2004), Vai trò đồng bào các dân tộc thiểu số ở Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong chiến tranh giải phóng ( ), Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb CTQG, Hà Nội. 41. Nguyễn Minh Châu, Khiếu Anh Lân (1995), Từ Điện Biên Phủ đến Bắc Tây Nguyên, Trung đoàn 96 - Trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp, Nxb QĐND, Hà Nội. 42. Nguyễn Văn Chiến (1985), Tây nguyên các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. 43. Lê Văn Cử (2014), Các mũi tiến công chiến lược trong chiến cuộc Đông Xuân , Báo Quân đội nhân dân điện tử ngày 7 tháng Nguyễn Văn Diệu (2004), Âm mưu của thực dân Pháp về vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên ( ), Tạp chí Xưa và Nay, số 224, tr Lê Duẩn (1978), Tây Nguyên đoàn kết tiến lên, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 107

114 46. Lê Duẩn (1983), Về chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước ở Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội. 47. Lê Duẩn (1993), Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội. 48. Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam (2009), Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 1 ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 49. Đảng Cộng sản Việt Nam - Những trang sử vẻ vang ( ),(2003) Nxb CTQG, Hà Nội. 50. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 8, Nxb CTQG, Hà Nội. 51. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội. 52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 10, Nxb CTQG, Hà Nội. 53. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 11, Nxb CTQG, Hà Nội. 54. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội. 55. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, Hà Nội. 56. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 14, Nxb CTQG, Hà Nội. 57. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 15, Nxb CTQG, Hà Nội. 58. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội. 59. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đơn Dương (1997), Sơ thảo Truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Đơn Dương ( ), Ban Chấp hành Đảng bộ Đơn Dương xuất bản. 108

115 60. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Kon Tum (2006), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Kon Tum, Tập 1 ( ), Nxb Đà Nẵng. 61. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Lâm Đồng (1984), Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng. 62. Đảng uỷ- Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng (2007), Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang tỉnh Lâm Đồng ( ), Nxb QĐND, Hà Nội. 63. Đảng ủy quân sự Kon Tum (1999), Truyền thống lực lượng vũ trang thị xã Kon Tum trong 30 năm chiến đấu và trưởng thành , Nxb Đà Nẵng. 64. Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng (2004), Một số văn kiện chỉ đạo chiến cuộc Đông Xuân và chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb QĐND, Hà Nội. 65. Phạm Giảng (1962), Lịch sử quan hệ quốc tế , Nxb Sử học, Hà Nội. 66. Võ Nguyên Giáp (1967), Những kinh nghiệm lớn của Đảng về lãnh đạo đấu tranh vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Nxb Sự thật, Hà Nội. 67. Võ Nguyên Giáp (1970), Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội. 68. Võ Nguyên Giáp (1972), Vị trí chiến lược của chiến tranh nhân dân ở địa phương và của các lực lượng vũ trang địa phương, Nxb QĐND, Hà Nội. 69. Võ Nguyên Giáp (1972), Vũ trang quần chúng cách mạng xây dựng quân đội nhân dân, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 70. Võ Nguyên Giáp (1974), Bài giảng về Đường lối quân sự của Đảng, Viện khoa học quân sự, Hà Nội. 71. Võ Nguyên Giáp (1974), Dân quân tự vệ một lực lượng chiến lược, Nxb Sự thật, Hà Nội. 109

116 72. Võ Nguyên Giáp (1975), Sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Sự thật, Hà Nội. 73. Võ Nguyên Giáp (1979), Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Nxb Sự thật, Hà Nội. 74. Võ Nguyên Giáp (1995), Chiến đấu trong vòng vây, Nxb QĐND Nxb Thanh Niên, Hà Nội. 75. Võ Nguyên Giáp (2006), Tổng tập Hồi ký, Nxb QĐND, Hà Nội. 76. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 77. Gra. Yvơ (1979), Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Bản dịch của Hoàng Thanh Quang, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Plon, Pari. 78. H. Na-va (1994), Thời điểm của những sự thật, Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 79. Nguyễn Mạnh Hà (1996), Chính sách chính trị, quân sự của Pháp ở Việt Nam trong giai đoạn và nguyên nhân thất bại của chúng, Luận án phó tiến sĩ khoa học quân sự, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. 80. Lê Mậu Hãn (1995), Đảng Cộng sản Việt Nam-Các kỳ Đại hội và Hội nghị Trung ương, Nxb CTQG, Hà Nội. 81. Lê Mậu Hãn (1998), Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục. 82. Lê Mậu Hãn (2001), Sức mạnh dân tộc của Cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hà Nội. 83. Đỗ Hằng (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Mang Yang ( ), Nxb CTQG, Hà Nội. 84. Đỗ Hằng (2006), Lịch sử Đảng bộ thành phố Pleiku ( ), Nxb CTQG, Hà Nội. 85. Vũ Quang Hiển (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng dân quân du kích và chiến tranh du kích, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Số 3, tr

117 86. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng (2009), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập III : Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc ( ), Nxb CTQG, Hà Nội. 87. Lê Công Hương (2005), Người Tây Nguyên theo Đảng, theo Bác Hồ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 88. Đỗ Hoàng Linh (2013), Bác Hồ với Tây nguyên, Gia Lai ấn hành. 89. Lê Phan Lương (2009), Lịch sử phong trào nông dân và hội nông dân tỉnh Gia Lai , Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội. 90. Mấy vấn đề về chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng ( ) (1999), Nxb QĐND, Hà Nội. 91. Hồ Chí Minh (1970), Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb QĐND, Hà Nội. 92. Hồ Chí Minh (1980), Chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội. 93. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 4, Nxb CTQG, Hà Nội. 94. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội. 95. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 6, Nxb CTQG, Hà Nội. 96. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội. 97. Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên (1986), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 98. Trần Hồ Nam (2004), Tiến quân lên Bắc Tây Nguyên mùa xuân 1954, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 1, tr Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) (2000), Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ (1963), Tập 1, Bộ Tổng tham mưu xuất bản Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, (1963), Tập 2, Bộ Tổng tham mưu xuất bản. 111

118 102. Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, (1963), Tập 3, Bộ Tổng tham mưu xuất bản Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, (1963), Tập 4, Bộ Tổng tham mưu xuất bản Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, (1963), Tập 5, Bộ Tổng tham mưu xuất bản Những tài liệu chỉ đạo cuộc đấu tranh vũ trang của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, (1963), Tập 6, Bộ Tổng tham mưu xuất bản Paya (1975), Về cuộc chiến tranh chiếm lại Đông Dương của đế quốc Pháp, Thư viện Trung ương quân đội sao lục Phát triển chiến tranh du kích chuyển mạnh sang tổng phản công (1951), Cục Tuyên huấn xuất bản Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu (2000), Tổng kết cách đánh của lực lượng dân quân du kích - tự vệ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ( ), Nxb QĐND, Hà Nội Quân sử 4 (1972), Quân lực Việt Nam cộng hoà trong giai đoạn hình thành Lưu tại thư viện Trung tâm thông tin Bộ Quốc phòng (số ký hiệu VL ) Sự phân chia nước Việt Nam thành các khu vực hành chính qua các thời kỳ, Trung tâm lưu trữ quốc gia 1, Phông Bộ Nội vụ, hồ sơ 11, cặp Nguyễn Thanh Tâm, Đào Trọng Cảng, Nguyễn Thị Kim Vân... (2010), Lịch sử Đảng bộ thị xã An Khê ( ), Nxb CTQG, Hà Nội Lê Trọng Tấn (1984), Chiến cuộc Đông Xuân Một bước phát triển sáng tạo của nghệ thuật quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Hoàng Văn Thái (1984), Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân , Nxb QĐND, Hà Nội. 112

119 114. Đinh Văn Thiên, Lê Quang Lợi, Nguyễn Trường Sơn (2006), Tây Nguyên - vùng đất, con người, Nxb QĐND, Hà Nội Ngô Thông (1952), Chiến sĩ địch hậu Nam Tây Nguyên, Nxb QĐND, Hà Nội 116. Nguyễn Thông (2001), Tiểu đoàn 186 cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên , Nxb QĐND, Hà Nội Trần Văn Thức (2005), Âm mưu của thực dân Pháp đối với vùng Tây Nguyên trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai ( ), Tạp chí Lịch sử quân sự, Số 7, tr Tổng cục Chính trị - Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt (2008), Lịch sử Cục Dân vận và tuyên truyền đặc biệt ( ), Nxb QĐND, Hà Nội Trận đánh ba mươi năm (Ký sự lịch sử) (1995), Tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội Ngô Đăng Tri, 82 năm Đảng Cộng sản Việt Nam Những chặng đường lịch sử ( ), Nxb thông tin và truyền thông Nguyễn Tuấn Triết (2007), Tây Nguyên, những chặng đường lịch sử - văn hoá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Trần Trọng Trung (2004), Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, Nxb QĐND, Hà Nội Trường Chinh (1952), Bàn về cách mạng Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương xuất bản Trường Chinh (1975), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội Trường Chinh (1985), Mấy vấn đề quân sự trong cách mạng Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Lê Văn Tuấn, Nguyễn Sĩ Hiền, Nguyễn Văn Mừng (1999), Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn tỉnh Lâm Đồng, Nxb Lao động, Hà Nội. 113

120 127. Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam (1979), Lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội V.I. Lênin (1964), Chiến tranh du kích, Nxb QĐND, Hà Nội V.I. Lênin (1980), Bàn về chiến tranh, quân đội, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, Nxb QĐND, Hà Nội Văn kiện Đảng về kháng chiến chống thực dân Pháp (1986), Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Văn kiện quân sự của Đảng (1976), Tập 2, Nxb QĐND, Hà Nội Viện Lịch sử Đảng - Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (1992), Nam Trung Bộ kháng chiến , Hà Nội Viện Sử học (1963), Âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Nxb Sử học, Hà Nội. 114

121 PHỤ LỤC 1. Bản đồ Tây Nguyên 2. Hình thái chiến trường Tây Nguyên ( ) 3. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku 4. Một số hình ảnh hoạt động chiến tranh du kích của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong kháng chiến chống Pháp 115

122 PHỤ LỤC 1 BẢN ĐỒ TÂY NGUYÊN Bản đồ vị trí Tây Nguyên trong lãnh thổ Việt Nam. Nguồn: [6] 116

123 117 Nguồn: [5]

124 PHỤ LỤC 2 HÌNH THÁI CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN ( ) Nguồn: [34] 118

125 PHỤ LỤC 3 THƯ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH GỬI ĐẠI HỘI CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NAM TẠI PLÂY CU Cùng các đồng bào dân tộc thiểu số, Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ. Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không đến dự hội được. Tôi tuy xa, nhưng lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào. Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu giây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta. Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ thì có NHA DÂN TỘC THIỂU SỐ để săn sóc cho tất cả các đồng bào. Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính Phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta. Xin chúc Đại hội thành công Lời chào thân ái Hà Nội, ngày 19 tháng 4 năm 1946 HỒ CHÍ MINH Nguồn: [93, tr ] 119

126 PHỤ LỤC 4: MỘT SỐ HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG CHIẾN TRANH DU KÍCH CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TÂY NGUYÊN TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP ( ) Tổ du kích Tây Nguyên đang làm nhiệm vụ cảnh giới. Nguồn: [36]. Huấn luyện du kích tỉnh Gia Lai. Nguồn: [60] 120

127 Anh hùng Núp cùng dân làng chiến đấu Sitơr (tỉnh Gia Lai) xây dựng làng chiến đấu năm Nguồn: [132] Bộ tư lệnh Liên khu 5 cùng các đồng chí chỉ huy các đơn vị thảo luận kế hoạch giải phóng Bắc Tây Nguyên Nguồn: [36] 121

128 Bộ đội hành quân chiến dịch Bắc Tây Nguyên (1954). Nguồn: [36] Dân công phục vụ chiến dịch Xuân Hè Nguồn: [36] 122