HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ XUÂN C NG T C X Y DùNG NG CñA NG Bé LI N KHU III Tõ N M 1948 ÕN N M 1954 Chuyên ngành : Lịch sử Đản

Kích thước: px
Bắt đầu hiển thị từ trang:

Download "HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ XUÂN C NG T C X Y DùNG NG CñA NG Bé LI N KHU III Tõ N M 1948 ÕN N M 1954 Chuyên ngành : Lịch sử Đản"

Bản ghi

1 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ XUÂN C NG T C X Y DùNG NG CñA NG Bé LI N KHU III Tõ N M 1948 ÕN N M 1954 Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Mã số : TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ HÀ NỘI

2 Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS Nguyễn Mạnh Hà 2. TS Nguyễn Bình Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3: Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi... giờ... ngày... tháng... năm 2015 Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

3 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tàì 1.1. Về khoa học Thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rất phong phú. Ở đó, thể hiện rõ nét sự sáng tạo của Đảng bộ Liên khu trên cả ba phương diện: xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về vấn đề này Về thực tiễn Công tác xây dựng Đảng có vai trò quan trọng, quyết định năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Đảng muốn vững mạnh, muốn giữ vững vai trò lãnh đạo, cần nghiên cứu, tổng kết, vận dụng những kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng của các địa phương trong lịch sử. Nghiên cứu, tổng kết những kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954, có thể vận dụng phục vụ công tác xây dựng Đảng hiện nay. 2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích Nghiên cứu, phục dựng, làm sáng tỏ quá trình xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954; tổng kết, đúc rút những kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu nhằm phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay Nhiệm vụ Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954; phân tích làm rõ chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng nói chung và đối với công tác xây dựng Đảng trên địa bàn Liên khu III nói riêng; tái hiện quá trình Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo, thực hiện công tác

4 2 xây dựng Đảng trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức; nêu bật những kết quả đạt được; chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm; đúc kết những kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận, thực tiễn qua thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án nghiên cứu hoạt động xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III: chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận án nghiên cứu chủ trương xây dựng Đảng của Trung ương Đảng và quá trình Đảng bộ Liên khu III triển khai thực hiện công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về không gian: Từ tháng đến tháng , gồm địa bàn 11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội. (Tháng , tỉnh Hải Kiến tách thành thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An. Ngày , Hà Nội tách khỏi Liên khu III thành Đặc khu, do Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo). Từ tháng đến tháng , gồm 6 tỉnh, thành phố: Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình và Hòa Bình. Về thời gian: Từ khi thành lập Liên khu III (tháng ) đến khi Hiệp định Genève (Giơ-ne-vơ) được ký kết tháng Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng về xây dựng Đảng.

5 Nguồn tài liệu Luận án được nghiên cứu trên cơ sở những nguồn tư liệu chủ yếu, đáng tin cậy, được công bố trong Văn kiện Đảng Toàn tập hoặc được lưu trữ tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phòng Tư liệu Viện Lịch sử Đảng; sách chuyên khảo; sách lịch sử Đảng bộ các địa phương thuộc địa bàn Liên khu III đã xuất bản v.v Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp lịch sử, lôgíc, phân tích, thống kê, so sánh, phê phán sử liệu và phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học lịch sử Đảng. 5. Đóng góp của luận án 5.1. Về tư liệu Sưu tầm, tập hợp, thẩm định khối tư liệu, tài liệu, nhất là tư liệu gốc về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954, trong đó có nhiều sử liệu mới. 5.2.Về nội dung Kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho người đọc thấy rõ quá trình Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo, thực hiện công tác xây dựng Đảng từ năm 1948 đến năm 1954 và ý nghĩa của công tác xây dựng Đảng đối với sự nghiệp lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc của Đảng bộ Liên khu; góp phần làm phong phú, toàn diện và sâu sắc hơn công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; cung cấp thêm những luận cứ khoa học phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. 6. Bố cục của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 3 chương, 6 tiết.

6 4 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Cho đến nay, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954 được đề cập ở những mức độ, phạm vi, góc độ khác nhau trong một số công trình lịch sử sau: 1.1. Những công trình, bài viết nghiên cứu chung về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác xây dựng Đảng Một số công trình, bài viết cơ bản như: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, sơ thảo, tập 1 ( ), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981 (tái bản năm 1984; Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc ( ), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 (tái bản năm 2012); Những kinh nghiệm về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam qua 70 năm hoạt động của Đảng, của GS Đậu Thế Biểu (số ); Công tác xây dựng Đảng và củng cố tổ chức Đảng ở Liên khu IV thời kỳ , của Nguyễn Danh Lợi (số ); Đề tài khoa học cấp bộ Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ( ), do TS Nguyễn Bình làm Chủ nhiệm v.v. Ở mức độ khác nhau, các công trình, bài viết đó đều phản ánh một số khía cạnh liên quan đến chủ đề của luận án Những công trình nghiên cứu chung về Liên khu III Một số công trình tiêu biểu như: Quân khu Ba - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 1998; Lịch sử kháng chiến chống Pháp Khu Tả ngạn sông Hồng , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 20001; Mấy vấn đề lớn ở Khu Tả ngạn sông Hồng trong kháng chiến chống Pháp , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Đề tài khoa học cấp bộ Vai trò của Liên khu uỷ III trong kháng chiến chống thực

7 5 dân Pháp xâm lược và trong những năm đầu xây dựng, củng cố miền Bắc, do TS Nguyễn Quý làm Chủ nhiệm v.v. Những công trình trên trình bày một số chủ trương kháng chiến, kiến quốc của Liên khu ủy III và cấp ủy một số tỉnh, thành trong Liên khu; nêu lên một vài khía cạnh về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III. Cả ba nhóm công trình trên là nguồn tài liệu quan trọng, gợi mở những vấn đề Luận án cần giải quyết, cũng như góp phần giúp nghiên cứu sinh hoàn thành tốt luận án của mình Các công trình lịch sử Đảng bộ và lịch sử các ban, ngành, đoàn thể của các tỉnh, thành thuộc Liên khu III Các công trình lịch sử đảng bộ của các tỉnh, thành phố trên địa bàn Liên khu III như: Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Hải Phòng: Lịch sử Đảng bộ Hải Phòng, tập I ( ), Nhà xuất bản Hải Phòng, 1991; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nam Định , Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Tỉnh uỷ Hà Tây: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Tây, tập II , 1994 v.v. đã phản ánh một vài khía cạnh về công tác xây dựng Đảng của các địa phương trên địa bàn Liên khu. 2. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm Trong hầu hết các công trình đã công bố, nội dung liên quan đến đề tài của luận án chỉ được phản ánh một cách đơn lẻ, tản mạn, mang tính minh họa trong diễn biến chung của cuộc kháng chiến. Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954 chưa bao giờ được coi là đối tượng nghiên cứu độc lập. Đảng bộ Liên khu III tiến hành xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức như thế nào? Kết quả đạt được, hạn chế, khuyết điểm; nguyên nhân của những kết quả, hạn chế đó;

8 6 những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu trong cuộc kháng chiến ra sao? Chừng nào những vấn đề đó chưa được làm sáng tỏ và luận giải thấu đáo thì những đánh giá, kiến giải về quá trình xây dựng Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vẫn chưa đầy đủ, sâu sắc và toàn diện. 3. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT - Phân tích các yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ tháng đến tháng Trình bày một cách có hệ thống những quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chung và đối với công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954 nói riêng. - Tái hiện quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III trên ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức từ tháng đến tháng Đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế trong công tác xây dựng của Đảng bộ Liên khu III. - Đúc kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn từ lịch sử công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III trong những năm 1948 đến năm 1954.

9 7 Chương 1 XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN TRONG TÌNH HÌNH MỚI (2/1948-5/1952) 1.1. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN LIÊN KHU III TRƯỚC THÁNG VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG Sự ra đời của Đảng bộ Liên khu III Thực hiện nghị quyết thống nhất Khu Bắc Bộ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày và Sắc lệnh số 120-SL ngày của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đầu tháng , Liên khu III được thành lập, trên cơ sở sáp nhập Khu II, Khu III và Khu XI. Địa bàn Liên khu III gồm 11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội. Ngay sau khi Liên khu III được thành lập, để kịp thời lãnh đạo, điều hành quân và dân Liên khu kháng chiến, Trung ương Đảng chỉ định Ban Thường vụ Liên khu ủy gồm các đồng chí: Lê Quang Hòa, Nguyễn Văn Lộc, Lê Quang Đạo, Trần Quang Bình, Văn Tiến Dũng, Đỗ Mười, Vũ Oanh, Đặng Tính, Nguyễn Khai..., đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Bí thư Liên khu ủy, kiêm chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Liên khu; đồng chí Lê Thanh Nghị làm Phó Bí thư. Trước tình hình các tỉnh Tả ngạn bị chiếm đóng, cô lập, để thuận lợi cho việc điều hành kháng chiến, ngày , Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 08/NQ-TU tách 5 tỉnh phía Bắc sông Hồng của Liên khu III gồm Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên thành lập Khu Tả ngạn sông Hồng. Liên khu III từ thời điểm đó đến khi kết thúc cuộc kháng chiến gồm 6 tỉnh, thành phố còn lại ở Hữu ngạn sông Hồng là Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây và Hòa Bình.

10 8 Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, từ ngày 20-5 đến , Liên khu ủy họp Hội nghị lần thứ 3 ra Nghị quyết về tổ chức và phân công nhiệm vụ cho các đồng chí tham gia Ban Chấp hành Liên khu ủy mới. Liên khu ủy mới gồm 15 đồng chí, đồng chí Lê Thanh Nghị làm Bí thư kiêm Chính ủy Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng ở Liên khu III Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Liên khu III - vùng đất phì nhiêu, rộng lớn với diện tích khoảng km2, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ; điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có nhiều thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn, phức tạp. Không chỉ là trung tâm và chiếm phần lớn diện tích đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu III còn là cửa ngõ đi vào miền Bắc Việt Nam. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Liên khu đã quy định vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của địa bàn đối với cuộc kháng chiến của ta và đối với cuộc chiến tranh xâm lược của địch. Liên khu III, do đó, trở thành mục tiêu đánh chiếm, bình định số 1 của quân Pháp. Thực tiễn chiến tranh ác liệt, đầy gian khổ, hy sinh trên địa bàn Liên khu đã tác động đến tư tưởng, tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mặt khác, đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của Liên khu cũng chi phối mạnh mẽ quan niệm, tư tưởng, lối sống, tính cách của cán bộ, đảng viên trên địa bàn. Bên cạnh tinh thần sáng tạo, tự lập, tự cường, đoàn kết, kiên trung, chịu thương, chịu khó còn có tư tưởng của người tiểu nông với nhiều hạn chế về tính cách (hẹp h òi, cá nhân), về nhận thức và trình độ văn hoá. Liên khu III là địa bàn có nhiều đồng bào Công giáo, nhiều tộc người sinh sống: người kinh là chủ yếu bên cạnh đồng bào Mường, Thái, Tày, Nùng, Dao, Hoa...(ở Ninh Bình, Hòa Bình và Sơn Tây). Để phát huy ưu điểm, khắc phục những ảnh hưởng không tốt đến tư tưởng, tính cách của người cán bộ, đảng viên và đoàn kết được nhân dân các tôn giáo, các dân tộc kháng chiến, chống âm mưu bình định đồng

11 9 bằng Liên khu, phá âm mưu lợi dụng tôn giáo, chia rẽ khối đoàn kết dân tộc của thực dân Pháp, đòi hỏi Đảng bộ Liên khu phải tăng cường công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng bộ Liên khu vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo kháng chiến ở một địa bàn chiến lược với rất nhiều khó khăn, phức tạp Tình hình xây dựng Đảng trên địa bàn Liên khu III trước tháng Từ năm 1930 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Xứ ủy Bắc Kỳ, các địa phương trên địa bàn Liên khu tập trung xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, phát triển đảng viên, lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống đế quốc, phong kiến. Thời gian này, các địa phương đã phát triển được một số ít đảng viên và xây dựng được một số chi bộ Đảng. Sau Cách mạng Tháng Tám đến trước khi Liên khu III ra đời (2-1948), các cấp bộ Đảng trên địa bàn Liên khu (lúc này gồm Khu ủy II, III, XI) tiếp tục tiến hành xây dựng Đảng bộ về mọi mặt, đạt được nhiều kết quả và có một số hạn chế. Thời gian này, hệ thống tổ chức Đảng các cấp từng bước được hình thành; số lượng cán bộ, đảng viên và chi bộ Đảng tăng ở hầu khắp các tỉnh, thành phố. Đến tháng , số lượng đảng viên toàn Khu III có đồng chí [190], là khu có số lượng đảng viên lớn nhất Bắc Bộ Chủ trương của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Sau thất bại ở Việt Bắc, thực dân Pháp quyết định chuyển sang đánh kéo dài, bình định các vùng đồng bằng đông dân, nhiều của để vơ vét sức người, sức của phục vụ cuộc tranh xâm lược, dùng chiến tranh tổng lực hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Đáp ứng yêu cầu lãnh đạo kháng chiến trong tình hình mới, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đẩy mạnh công tác xây

12 10 dựng Đảng, tập trung vào phát triển đảng viên; giáo dục quan điểm, đường lối, tình hình, nhiệm vụ, ý thức của người đảng viên và củng cố tổ chức CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ LIÊN KHU III TỪ THÁNG ĐẾN THÁNG Đảng bộ Liên khu III xác định nhiệm vụ chính trị, cùng cả nước đánh bại âm mưu bình định của thực dân Pháp Trước âm mưu tấn công, đánh chiếm địa bàn của thực dân Pháp, căn cứ vào tình hình Liên khu và chủ trương của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Liên khu đã xác định nhiệm vụ chính trị cho toàn Liên khu. Nhiệm vụ chính trị của Liên khu được thể hiện qua Hội nghị đại biểu Liên khu đầu năm 1948, Hội nghị cán bộ Liên khu lần thứ nhất ( tháng ), Hội nghị đại biểu Liên khu lần thứ nhất (tháng ) Hội nghị đại biểu Liên khu lần thứ hai (tháng ), Hội nghị cán bộ Liên khu III lần thứ ba (tháng ) với các điểm cơ bản là: kháng chiến, thực hiện chiến tranh nhân dân với tinh thần tự lập, tự túc, trường kỳ; với phương châm vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Mọi nhiệm vụ khác đều nhằm phục vụ nhiệm vụ kháng chiến. Vùng địch chiếm đóng, nhiệm vụ đặc trưng là các hoạt động quân sự đa dạng, kết hợp với các nhiệm vụ đấu tranh kinh tế, chính trị, phá tề, chống bắt lính, chống dồn dân, lập ấp... Vùng tự do bên cạnh nhiệm vụ đặc trưng là sản xuất lương thực, vũ khí, thuốc men, bảo vệ hậu phương, xây dựng lực lượng, còn có nhiệm vụ thường xuyên là chuẩn bị chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. Với việc xác định rõ nhiệm vụ chính trị, từ tháng đến tháng , Đảng bộ Liên khu đã lãnh đạo quân và dân trên địa bàn thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị đề ra. Đến tháng , nhiều vùng giải phóng được mở rộng Các căn cứ du kích của Liên khu đã tạo thành thế liên hoàn. Mọi cố gắng bình định của địch trong năm 1951 bị phá vỡ. Những hoạt động quân sự của quân và dân Liên khu từ năm 1948 đến tháng góp phần bước đầu làm thất bại âm mưu bình định đồng

13 11 bằng Bắc Bộ và chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang thế sẵn sàng phản công và tiến công Đảng bộ Liên khu III đẩy mạnh giáo dục tư tưởng Nội dung giáo dục tư tưởng của Đảng bộ Liên khu chủ yếu nhằm vào giáo dục lập trường giai cấp, niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ý thức kháng chiến lâu dài, tự lực cánh sinh, chịu đựng gian khổ, không sợ hy sinh; giúp cán bộ, đảng viên nhận rõ bạn, thù; chống tư tưởng ỷ lại, dao động, sợ Mỹ, thân Mỹ, đánh giá cao thực dân Pháp; động viên tinh thần, ý chí chiến đấu trước những chiến dịch lớn (Chiến dịch Biên Giới)... Với chủ trương đúng đắn và bằng những biện pháp giáo dục thiết thực, công tác giáo dục tư tưởng thời kỳ này đã giúp cho cán bộ, đảng viên của Đảng bộ nâng cao nhận thức, củng cố lập trường giai cấp, quan điểm quần chúng; quan điểm, đường lối kháng chiến; tình hình, nhiệm vụ. Những tư tưởng sai lệch như: bi quan, dao động, cầu an, lánh giặc, đầu hàng hoặc lạc quan tếu, chủ quan, khinh địch, ỷ lại, nóng vội, đoản kỳ kháng chiến được khắc phục. Cán bộ, đảng viên phân biệt rõ bạn, thù Trên cơ sở đó, xác định rõ ý thức, trách nhiệm đối với cuộc kháng chiến, nêu cao ý thức hoàn thành nhiệm vụ Đảng bộ Liên khu III tích cực xây dựng, củng cố tổ chức Công tác tổ chức tập trung vào xây dựng, kiện toàn bộ máy Đảng các cấp theo hướng tinh, gọn, hiệu quả ; tăng cường công tác đào tạo, bổ sung, đề bạt cán bộ; sửa đổi lề lối làm việc; chống chủ nghĩa cá nhân; đẩy mạnh phát triển Đảng, chú trọng xây dựng chi bộ tự động công tác. Năm 1948, 1949, chủ trương thi đua xây dựng Hội của Trung ương Đảng đã chi phối mạnh mẽ công tác phát triển Đảng của Liên khu. Do đó, Liên khu đã phát triển Đảng ồ ạt, không đảm bảo về chất lượng và trở thành địa phương phát triển Đảng mạnh nhất cả nước với 15 vạn đồng chí vào cuối

14 12 năm 1949 [25]. Năm 1950, 1951 và đầu năm 1952, do một số yếu tố khách quan, chủ quan (chiến tranh ác liệt, c ơ sở bị phá; cán bộ, đảng viên hy sinh, bị bắt; một số không nhỏ cầu an, nằm im; thực hiện máy móc Chỉ thị Tạm ngừng phát triển đảng viên mới của Trung ương...), số lượng cán bộ, đảng viên, chi bộ cơ sở, chi bộ tự động công tác của Đảng bộ Liên khu giảm nhanh, thiếu cán bộ trầm trọng, đặc biệt là cán bộ huyện, xã. Đến tháng , toàn Liên khu có khoảng 2 vạn đảng viên [49]. Tiểu kết chương 1 Từ năm 1948 đến tháng , Đảng bộ Liên khu III đã tiến hành xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, từng bước nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ; đã lãnh đạo quân và dân Liên khu thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, bước đầu góp phần đánh bại âm mưu chiếm đóng đồng bằng của thực dân Pháp. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng thời kỳ này có nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm lớn nhất là phát triển đảng viên không chú ý đến chất lượng, quá coi trọng thành tích, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đến sức chiến đấu của Đảng bộ. Những khuyết điểm đó được Đảng bộ Liên khu khắc phục trong những năm sau đó. Chương 2 XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ VỮNG MẠNH, ĐẢM BẢO LÃNH ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (5/1952-7/1954) 2.1. CHỦ TRƯƠNG MỚI CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG Bước sang năm 1952, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam giành được những kết quả quan trọng. Với chiến thắng Hòa Bình Đông -

15 13 Xuân , thế và lực của ta ngày càng lớn mạnh, quân và dân cả nước có điều kiện tiếp tục mở những chiến dịch lớn tiêu diệt địch, tiến tới kết thúc chiến tranh. Để nâng cao sức chiến đấu cho Đảng, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đẩy mạnh kháng chiến, từ nửa đầu năm 1952 đến khi kết thúc cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục xác định công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ trọng yếu, trong đó, chỉnh huấn, chỉnh Đảng là nhiệm vụ trọng tâm. Đồng thời, đẩy mạnh học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, năng lực công tác cho cán bộ, đảng viên, kết hợp với chỉnh đốn tổ chức. Tất cả nhằm làm cho toàn Đảng thống nhất về tư tưởng, vững mạnh về tổ chức, đủ sức lãnh đạo kháng chiến trong giai đoạn quyết định ĐẢNG BỘ LIÊN KHU III TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, TỔ CHỨC (5/1952-7/1954) Đảng bộ Liên khu III xác định nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến Sau chiến dịch Hòa Bình, cuộc kháng chiến trên địa bàn Liên khu ngày càng có nhiều thuận lợi, mở ra khả năng chủ động tấn công tiêu diệt địch. Đảng bộ ngày càng trưởng thành, có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo. Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên còn vi phạm nhiều khuyết điểm: tư tưởng, lập trường giai cấp, quan điểm kháng chiến sai lệch; tinh thần, ý chí chiến đấu chưa cao; chủ nghĩa cá nhân, bênh quan liêu, mệnh lệnh... còn nặng. Ngược lại, sau chiến dịch Hòa Bình, thực dân Pháp càng lún sâu vào thế bị động, ra sức tăng cường lực lượng, đẩy mạnh càn quét, đánh phá, giành giật địa bàn Liên khu. Hè năm 1953, Pháp tiến hành kế hoạch Nava nhằm chiếm và giữ cho được đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu III trở thành một trọng điểm trong kế hoạch đánh chiếm của quân Pháp.

16 14 Căn cứ vào tình hình địa phương và chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ Liên khu tiếp tục xác định nhiệm vụ chính trị của Liên khu trong giai đoạn mới là: tiếp tục đẩy mạnh kháng chiến, trong đó, nhiệm vụ quan trọng bậc nhất là giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh ở vùng sau lưng địch, phối hợp chặt chẽ với chiến trường cả nước. Mọi công tác khác như: xây dựng lực lượng, bồi dưỡng sức dân, động viên nhân dân sản xuất, tiết kiệm, đóng thuế nông nghiệp, đóng góp sức người, sức của phục vụ kháng chiến... phải tiến hành thường xuyên và đều nhằm phục vụ kháng chiến. Mỗi vùng đều xác định nhiệm vụ cụ thể, phù hợp với đặc điểm địa bàn. Các nhiệm vụ đó được thể hiện qua Hội nghị Liên khu ủy lần thứ 3 (từ 20-5 đến ), Hội nghị Thường vụ Liên khu ủy (tháng ), Nghị quyết của Ban Chấp hành Liên khu ủy (tháng ), Hội nghị Cán bộ Liên khu III (tháng ). Với việc xác định rõ nhiệm vụ chính trị, từ tháng đến tháng , Đảng bộ Liên khu đã lãnh đạo quân và dân trên địa bàn đánh bại âm mưu chiếm đóng đồng bằng Liên khu của địch, giành thắng lợi ngày càng to lớn, góp phần vào thắng lợi Đông - Xuân mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, đưa tới việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo về tư tưởng Nhằm thống nhất tư tưởng và nêu cao quyết tâm kháng chiến, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị đặt ra, từ tháng đến tháng , Đảng bộ Liên khu III tiếp tục tập trung giáo dục về lập trường giai cấp, quan điểm, đường lối, phương châm kháng chiến của Đảng; giáo dục tình hình, nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, ý chí chiến đấu; chỉnh đốn, uốn nắn những tư tưởng, nhận thức sai lệch; chống chủ nghĩa cá nhân; xây dựng tư tưởng đúng đắn, nâng cao nhận thức, trình độ mọi mặt cho cán bộ, đảng viên. Đảng bộ đặc biệt chú ý giáo dục, động viên trong những thời điểm quan trọng của cuộc kháng chiến (trước những chiến dịch lớn).

17 15 Nhờ chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ ngày càng nâng cao được nhận thức, tư tưởng; nâng cao cao ý thức và tinh thần trách nhiệm trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng; tích cực lãnh đạo quân và dân Liên khu kháng chiến. Những khuynh hướng tư tưởng hữu khuynh, tả khuynh được khắc phục; giải quyết cơ bản tình trạng cán bộ, đảng viên vùng địch hậu cầu an, xin ra vùng tự do. Toàn Đảng bộ đoàn kết, thống nhất, quyết tâm lãnh đạo nhân dân kháng chiến Đảng bộ Liên khu III xây dựng, củng cố tổ chức Sau khi Trung ương tách Khu Tả ngạn khỏi địa bàn Liên khu III, Đảng bộ Liên khu đã tập trung sắp xếp, củng cố lại bộ máy lãnh đạo từ Liên khu tới cơ sở; tăng cường công tác cán bộ; sửa đổi lề lối làm việc, chống bệnh 3 nhiều (khai Hội, chỉ thị, báo cáo nhiều), 3 ít (ít điều tra nghiên cứu, kiểm tra, theo dõi; ít học tập chính sách, ít rút kinh nghiệm và tổng kết kinh nghiệm), thực hiện đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đồng thời, tiến hành chỉnh huấn, chỉnh Đảng, chỉnh đốn chi bộ. Công tác phát triển Đảng được Liên khu ủy quan tâm nhưng hầu như không đạt kết quả. Số lượng đảng viên, chi bộ Đảng giảm nhanh, đầu năm 1954, Đảng bộ Liên khu chỉ có đảng viên. Để nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên, Đảng bộ Liên khu đã tiến hành mở các lớp bồi dưỡng, giáo dục lý luận, đạo đức, văn hóa; thực hiện xuyên công tác kiểm tra, đề cao kỷ luật Đảng, khen thưởng. Với chủ trương và những biện pháp tích cực, bộ máy Đảng của Đảng bộ Liên khu được củng cố, những phần tử xấu, phản động bị thanh lọc, cán bộ thuộc thành phần cơ bản được bổ sung vào cấp ủy các cấp. Sức chiến đấu của Đảng bộ Liên khu được tăng cường, tạo điều kiện để Đảng bộ lãnh đạo hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đề ra.

18 16 Tiểu kết chương 2 Với sự nỗ lực của Liên khu ủy và các cấp ủy địa phương, từ tháng đến khi kết thúc cuộc kháng chiến, Đảng bộ Liên khu đã vươn lên khắc phục những tồn tại, từng bước xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng bộ Liên khu đã lãnh đạo nhân dân trên địa bàn kháng chiến thắng lợi. So với thời kỳ trước khi tách các tỉnh Tả ngạn (5-1952), công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu giai đoạn này có một số điểm khác: - Lãnh đạo xây dựng Đảng trên địa bàn hẹp hơn (6 t ỉnh, thành phố), tập trung chủ yếu vào củng cố, chỉnh đốn Đảng (kiện toàn cấp ủy, củng cố chi bộ, giáo dục, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên, chỉnh đốn chi bộ, cấp ủy các cấp); công tác phát triển đảng viên gần như ngừng hẳn ở các địa phương; công tác đào tạo cán bộ gặp nhiều khó khăn. Giai đoạn này, về mặt hành chính, 5 tỉnh Tả ngạn tách khỏi Liên khu III. Do đó, số lượng đảng viên, chi bộ Đảng và cán bộ thời kỳ này giảm nhiều so với giai đoạn trước; thiếu nhiều cán bộ cốt cán, cán bộ xã. - Do tập trung chủ yếu vào công tác củng cố, chỉnh đốn nên các tổ chức Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ Liên khu có bước chuyển vượt bậc về năng lực, sức chiến đấu và dày dạn kinh nghiệm công tác. Với sự trưởng thành mạnh mẽ, Đảng bộ Liên khu đã lãnh đạo quân và dân liên khu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kháng chiến, góp phần đánh bại thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Chương 3 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 3.1. NHẬN XÉT Thành tựu, nguyên nhân Trải qua 6 năm không ngừng phấn đấu, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Những thành tựu đó là:

19 17 Về chính trị Đảng bộ đã đề ra những chủ trương, nhiệm vụ chính trị đúng đắn, phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ Liên khu III đã tuân thủ đúng nguyên tắc trong xác định nhiệm vụ chính trị của Đảng, đó là, quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương để đề ra nhiệm vụ chính trị phù hợp. Xuất phát là một địa bàn trọng điểm bình định của địch ở Bắc Bộ, trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ chính trị chính yếu mà Đảng Bộ Liên khu xác định là kháng chiến, mọi nhiệm vụ khác đều nhằm phục vụ nhiệm vụ kháng chiến. Trên tinh thần đó, mỗi vùng, căn cứ vào đặc điểm riêng, đề ra nhiệm vụ chủ yếu bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên. Vùng địch tạm chiếm đóng, nhiệm vụ chủ yếu là các hoạt động quân sự đa dạng bên cạnh nhiệm vụ thường xuyên là sản xuất, xây dựng lực lượng, đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa; chống bắt lính, chống dồn làng, lập ấp; binh, địch vận... Vùng tự do, nhiệm vụ chính yếu là bảo vệ, xây dựng thực lực mọi mặt, phát triển sản xuất bên cạnh nhiệm vụ thường xuyên là tích cực chuẩn bị chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu. Do tuân thủ đúng nguyên tắc trong xác định nhiệm vụ chính trị của Đảng, những nhiệm vụ chính trị mà Đảng bộ Liên khu đề ra đáp ứng đầy đủ yêu cầu cần phải thực hiện ở một vùng tạm bị địch chiếm, một địa bàn trọng điểm trên chiến trường trọng điểm; hoàn toàn phù hợp với quan điểm toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, kháng chiến khắp nơi của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do đó, Đảng bộ đã lãnh đạo quân và dân Liên khu kháng chiến thắng lợi.

20 18 Về tư tưởng Đảng bộ Liên khu đã quán triệt sâu rộng, nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên về quan điểm, đường lối, phương châm kháng chiến của Đảng. Đoàn kết, thống nhất tư tưởng, hành động trong toàn Đảng bộ là điều kiện tiên quyết để lãnh đạo kháng chiến thành công. Nhận thức rõ điều đó, từ năm 1948 đến năm 1954, Đảng bộ Liên khu luôn đề cao công tác giáo dục tư tưởng, trong đó, một mặt tập trung quán triệt trong cán bộ, đảng viên về quan điểm, đường lối, phương châm, chủ trương kháng chiến của Đảng; về tình hình, nhiệm vụ từng thời kỳ; tình hình Liên khu và chủ trương của Đảng bộ Liên khu. Vì vậy, cán bộ, đảng viên trong Liên khu luôn nhận thức rõ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà quân và dân ta đang tiến hành là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; phương châm của cuộc kháng chiến là vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Từ đó, cán bộ, đảng viên củng cố được lập trường tư tưởng; tinh thần, ý chí chiến đấu; ý thức, trách nhiệm đối với Đảng và sự nghiệp kháng chiến. Ở vùng sau lưng địch cũng như vùng tự do, cán bộ, đảng viên luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trở thành tấm gương cổ vũ mạnh mẽ nhân dân tham gia kháng chiến. Trong một vài thời đoạn, do một số nguyên nhân, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nảy sinh những khuynh hướng tư tưởng sai lệch tả khuynh, hữu khuynh; chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, bè phái, ảnh hưởng đến sức chiến đấu của Đảng bộ. Đảng bộ Liên khu đã tiến hành nhiều biện pháp khắc phục: chỉnh huấn, chỉnh Đảng, tổ chức học tập, bồi dưỡng Nhờ đó, cán bộ, đảng viên của Đảng bộ đã kiên định lập trưởng tư tưởng; thống nhất ý chí và hành động, sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng cao. Những khuynh hướng tư tưởng sai lệch, những căn bệnh có hại cho Đảng được khắc phục. Nhân dân tin tưởng vào sự lãnh

21 19 đạo của Đảng bộ, tích cực tham gia kháng chiến. Thực tiễn kháng chiến đầy gian khổ trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu với những thắng lợi ngày càng to lớn là minh chứng cho thành công của Đảng bộ Liên khu trong công tác lãnh đạo tư tưởng. Về tổ chức Xây dựng được bộ máy lãnh đạo với đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm cao. Đảng bộ Liên khu đã tập trung xây dựng bộ máy lãnh đạo Đảng 4 cấp gọn, nhẹ, vững chắc, theo nguyên tắc tập đoàn chỉ huy, cá nhân phụ trách. Cấp ủy từ Liên khu tới cơ sở được xây dựng trên cơ sở bầu cử dân chủ (một vài thời điểm, một vài cơ quan cấp ủy, do hoàn cảnh chiến sự ác liệt, cấp trên phải tạm thời chỉ định). Bộ máy lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu được củng cố, kiện toàn theo hướng gọn, nhẹ, hiệu quả; có sự phân công chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, phù hợp với đặc điểm của một vùng bị địch chiếm đóng, càn phá và kiểm soát gắt gao. Đồng thời, Đảng bộ cũng xây dựng được đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm cao (cuối năm 1949, Liên khu có cán bộ). Bộ máy lãnh đạo gọn, nhẹ và đội ngũ cán bộ năng lực, giàu kinh nghiệm của Đảng bộ Liên khu là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định thành công sự nghiệp kháng chiến trên địa bàn. Phát triển được đội ngũ đảng viên kiên trung và những chi bộ Đảng tự động được công tác. Trong bối cảnh Liên khu bị địch chiếm đóng, đánh phá; địa bàn bị chia cắt, giao thông, liên lạc khó khăn, Đảng bộ đã sáng suốt tập trung xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên kiên trung và chi bộ tự động được công tác. Mặc dù trong một vài thời đoạn, công tác phát triển Đảng của Đảng bộ còn những hạn chế, khuyết điểm, song về cơ bản, đội ngũ đảng viên và những chi bộ Đảng kiên cường, hăng hái vẫn không ngừng được củng cố,

22 20 đã tạo điều kiện cho Đảng bộ Liên khu phát huy được vai trò của mình trong mọi hoàn cảnh, đưa phong trào kháng chiến của Liên khu tiến lên. Thực tiễn lãnh đạo kháng chiến trong vùng sau lưng địch, không sợ gian khổ, hy sinh, cán bộ, đảng viên và các chi bộ tự động được công tác đã dũng cảm bám địa bàn lãnh đạo kháng chiến. Phong trào kháng chiến Liên khu, do đó, từng bước vượt qua thời kỳ khó khăn, đen tối những năm Cũng nhờ đó, Đông - Xuân , mặc dù chỉ với khoảng đảng viên nhưng Đảng bộ Liên khu đã lãnh đạo quân và dân trên địa bàn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị, chống lại có hiệu quả hàng loạt những trận càn quét lớn, nhỏ, làm phá sản âm mưu chiếm đóng đồng bằng của địch, góp phần cùng cả nước đưa cuộc kháng chiến tới thắng lợi Hạn chế, nguyên nhân Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng Đảng trong cuộc kháng chiến từ năm , Đảng bộ Liên khu còn một số khuyết điểm, hạn chế. Về chính trị Một số chủ trương đề ra chậm, không sát với tình hình thực tiễn. Tả khuynh trong xác định và chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Về tư tưởng Lập trường tư tưởng, tinh thần kháng chiến của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sai lệch, thiếu vững vàng. Về tổ chức Phát triển đảng viên không chú trọng chất lượng, có biểu hiện tả khuynh và hữu khuynh Công tác đào tạo, sử dụng, bố trí cán bộ còn nhiều bất cập, có lúc, có nơi chưa đánh giá đúng năng lực, nặng về chủ nghĩa thành phần.

23 21 Những hạn chế, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III có nhiều nguyên nhân, song, nguyên nhân cơ bản là sự hạn chế trong trình độ nhận thức, năng lực lãnh đạo của một số cán bộ trong cấp ủy các cấp và trong một số cán bộ, đảng viên; bên cạnh đó, một phần bắt nguồn từ một số chủ trương không phù hợp của Trung ương Đảng MỘT SỐ KINH NGHIỆM Từ thực tiễn nghiên cứu công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu từ năm 1948 đến năm 1954, bước đầu rút ra một số khinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây: Một là, trong xây dựng Đảng về chính trị cần quán triệt sâu sắc và vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối của Trung ương Đảng vào tình hình thực tế địa phương Hai là, tăng cường giáo dục tư tưởng đi đôi với thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng Ba là, xây dựng cấp ủy các cấp thật sự là hạt nhân lãnh đạo Bốn là, chú trọng công tác xây dựng Đảng ở cơ sở trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, địa bàn bị bao vây, chia cắt Năm là, phát triển đảng viên về số lượng, đồng thời, phải bảo đảm chất lượng; chú trọng phát triển Đảng trong vùng Công giáo và vùng dân tộc thiểu số; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ

24 22 KẾT LUẬN Từ khi ra đời cho đến nay, để lãnh đạo phong trào cách mạng thành công, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao và tiến hành thường xuyên công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Nhờ đó, Đảng ngày càng trưởng thành, vững mạnh về chính trị, thống nhất và vững vàng về tư tưởng, thống nhất về tổ chức, xác lập đường lối cách mạnh đúng đắn, phương pháp lãnh đạo khoa học, sáng tạo. Do đó, Đảng đã lãnh đạo cách mạng thành công. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, căn cứ vào yêu cầu và tình hình thực tiễn, Đảng luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng Đảng ở những địa bàn chiến lược quan trọng. Là chiến trường trọng điểm trên chiến trường chính Bắc Bộ, Liên khu III có vai trò quan trọng đối với cuộc kháng chiến của ta và có ý nghĩa sống còn đối với cuộc chiến tranh xâm lược của địch. Để hoàn thành nhiệm vụ của chiến trường chính, đánh bại mọi âm mưu đánh chiếm, bình định của thực dân Pháp, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định thành lập các Liên khu, trong đó có Liên khu III và Đảng bộ Liên khu vào tháng Việc thành lập Đảng bộ Liên khu III là chủ trương đúng đắn của Đảng, phù hợp với yêu cầu của cuộc kháng chiến. Lãnh đạo một địa bàn trọng yếu, từ năm 1948 đến năm 1954, Đảng bộ Liên khu III luôn quan tâm thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng và đạt được nhiều thành quả quan trọng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức; góp phần vào công tác xây dựng Đảng nói chung. Quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở Liên khu III vừa trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc tổ chức hoạt động của chính Đảng vô sản theo chủ nghĩa Mác - Lênin, chấp hành nghiêm túc sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh; vừa căn cứ vào đặc điểm của địa bàn được phân công phụ trách là vùng tạm bị địch chiếm, là địa bàn trọng điểm trong chính sách đánh chiếm, bình định của thực dân Pháp, là trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, nơi tụ cư đa số là nông dân, một phần là công nhân, ngoài ra

25 23 có nhiều thành phần khác như địa chủ, tư sản, trí thức, cũng là nơi tập trung nhiều đồng bào Công giáo, dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ văn hóa, nhận thức còn nhiều hạn chế; địa bàn phụ trách luôn có những biến đổi, vừa có vùng tạm bị chiếm, vừa có vùng tự do. Quá trình xây dựng Đảng bộ về chính trị tập trung chủ yếu vào quán triệt, vận dụng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính vào thực tiễn địa phương. Trên cơ sở đường lối kháng chiến, kiến quốc, chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí minh, Đảng bộ Liên khu III đã xác định được chủ trương, phương hướng và biện pháp phù hợp để lãnh đạo quân và dân Liên khu vượt qua khó khăn, đẩy mạnh kháng chiến, giải phóng quê hương, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Quá trình xây dựng Đảng bộ về tư tưởng hướng trọng tâm vào xây dựng, củng cố niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của cuộc kháng chiến, tạo sự thống nhất và thông suốt trong nhận thức về quan điểm, đường lối, phương châm lãnh đạo kháng chiến của Đảng; về tình hình, nhiệm vụ; đả phá và khắc phục những tư tưởng cầu an, ngại khó; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các bệnh quan liêu, mệnh lệnh, tư lợi trong cán bộ, đảng viên. Quá trình xây dựng Đảng về tổ chức, Đảng bộ tập trung xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng các cấp; phát triển đội ngũ cán bộ, đảng viên đông đảo, trong đó có một số đảng viên Công giáo, đảng viên dân tộc thiểu số. Với sự nỗ lực của Đảng bộ, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu đạt được những thành quả quan trọng; năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ được tăng cường. Thành công trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu tạo điều kiện để Đảng bộ Liên khu lãnh đạo quân và dân trên địa bàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một chiến trường trọng điểm, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến. Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954 có nhiều hạn chế, cả trong nhận thức, xác định nhiệm vụ chính

26 24 trị; công tác giáo dục tư tưởng; xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ, phát triển đảng viên. Những hạn chế đó có nhiều nguyên nhân; trong đó có nguyên nhân xuất phát từ chủ trương xây dựng Đảng của Trung ương Đảng chứa đựng nhiều điểm không hợp lý. Tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản là do hạn chế trong nhận thức của một số cán bộ lãnh đạo trong cấp ủy các cấp, trong một số cán bộ, đảng viên ở các địa phương và một phần, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt tác động. Thực tiễn công tác xây dựng Đảng ở Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954 để lại những kinh nghiệm quý có thể vận dụng trong công tác xây dựng Đảng. Những kinh nghiệm đó là: Xác định nhiệm vụ chính trị trên cơ sở quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng, vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tiễn địa phương; tăng cường công tác giáo dục tư tưởng đi đôi với thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng; đẩy mạnh xây dựng, củng cố tổ chức, trong đó, chú trọng xây dựng, kiện toàn cấp ủy các cấp; tăng cường xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở, xây dựng chi bộ tự động công tác; phát triển đảng viên cả số lượng và chất lượng, chú ý phát triển Đảng trong đồng bào Công giáo và dân tộc thiểu số; coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ. Những kinh nghiệm trên cũng chính là những nguyên tắc trong xây dựng Đảng, có ý nghĩa trong mọi thời kỳ cách mạng. Thực tiễn công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954, cả mặt thành công cũng như chưa thành công cho thấy, muốn hoàn thành nhiệm sứ mệnh lịch sử của mình, các cấp bộ Đảng phải thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; gắn bó mật thiết với nhân dân; có phương thức lãnh đạo khoa học; có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực. Đồng thời, phải không ngừng tự chỉnh đốn, đổi mới, nâng cao năng lực và sức chiến đấu, nhanh nhạy nắm bắt thời cơ, chấp nhận và vượt qua thách thức. Đó chính là những nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.

27 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nguyễn Thị Xuân (2010), Chủ trương của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đối với công tác xây dựng tổ chức Đảng ở Bắc Kỳ thời kỳ , Đảng Cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, Nxb Chính trị - Hành chính quốc gia, Hà Nội. 2. Nguyễn Thị Xuân (2012), "Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Đảng ở Liên khu III trong những năm ", Tạp chí Lịch sử Đảng, số Nguyễn Thị Xuân (2013), "Công tác phát triển Đảng và xây dựng chi bộ ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ( )", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9 (274). 4. Nguyễn Thị Xuân (2014), "Liên khu ủy III lãnh đạo xây dựng chi bộ tự động công tác ( )", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11 (288). 5. Nguyễn Thị Xuân (2014), Đảng bộ Li ên khu III lãnh đạo đấu tranh phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ, 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 6. Nguyễn Thị Xuân (2015), "Công tác phát triển Đảng của Đảng bộ Liên khu III ( )", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5 (294).