ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ THÚY HẰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN TH

Kích thước: px
Bắt đầu hiển thị từ trang:

Download "ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ THÚY HẰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN TH"

Bản ghi

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT LÊ THÚY HẰNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - NĂM 2006

2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT K ý hiệu các chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ - XHCN xã hội chủ nghĩa - TNHH trách nhiệm hữu hạn - BHXH bảo hiểm xã hội - CoC Bộ Quy tắc ứng xử - Code of Conduct MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài

3 Ngày nay, các quy phạm pháp luật có xu hướng được ban hành nhiều hơn, khiến cho không ít người đặt câu hỏi: Phải chăng chúng ta đang sống trong một xã hội mà cái gì không được quy định, hành vi nào không được đề ra khuôn mẫu bắt buộc và không bị răn đe bởi các chế tài thì con người ắt có xử sự không đúng đắn? Nhưng tại sao pháp luật ngày càng chặt chẽ mà tội phạm lại ngày càng gia tăng, xã hội ngày một phức tạp? Như vậy có phải khi pháp luật lên ngôi cũng có nghĩa là đạo đức đã xuống cấp hay không? Hãy nhìn vào một trong những lĩnh vực nóng bỏng hiện nay là kinh doanh. Tại sao đã qua 20 năm đổi mới theo cơ chế thị trường chúng ta vẫn chưa có một cộng đồng doanh nhân đích thực, chưa hoàn toàn có một cái nhìn thực sự thiện cảm về giới kinh doanh? Tại sao những con người làm nên tâm điểm của định hướng mà chúng ta đang theo đuổi lại vẫn còn bị gọi một cách miệt thị là con buôn - một danh từ mà khi sử dụng như tính từ thì nó dùng để chỉ những ai có bản tính tham lam, trí trá, lật lọng, sẵn sàng vì đồng tiền hay lợi ích cá nhân của mình mà chà đạp lên lợi ích của người khác? Tuy nhiên, dù đặt ngược vấn đề như thế nào thì khi nhìn nhận lại một cách nghiêm túc, không ai có thể phủ nhận vai trò của mối quan hệ tương tác giữa pháp luật và đạo đức. Xã hội không thể tồn tại một ngày mà thiếu đi sự điều chỉnh của hai loại quy phạm này vì đó là nhu cầu mang tính tất yếu. Liên hệ vào lĩnh vực kinh doanh, chúng ta đều phải thừa nhận một cách khách quan rằng: vượt ra khỏi phạm vi ảnh hưởng tới những chủ thể tham gia trực tiếp trong quan hệ kinh doanh, hành vi vi phạm pháp luật và hành xử trái đạo đức trong kinh doanh còn có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường... Và chừng nào pháp luật cùng với đạo đức chưa là tôn chỉ trong hành động của các nhà kinh doanh thì nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng chưa thể phát triển lành mạnh. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ vào lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, về mặt lý luận cũng như qua đánh giá thực tiễn để tìm ra bản chất vai trò của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, tìm ra nguyên nhân vì đâu mà đôi khi vai trò đó lại bị hoài nghi để đưa ra hướng khắc phục là một yêu cầu hết sức bức thiết. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức về mặt lý luận là mảng đề tài đã được khai thác khá sâu trong một số công trình nghiên cứu, sách tham khảo và trên các diễn đàn, đáng chú ý là:

4 - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội có đề tài: Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong quản lý xã hội ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, do PGS, TS. Hoàng Thị Kim Quế chủ nhiệm, Hà Nội, năm Cuốn Đạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam của GS. Vũ Khiêu và PGS, TS. Thành Duy, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, năm Vấn đề pháp luật và đạo đức trong kinh doanh cũng đã được đề cập đến trong không ít tác phẩm chuyên khảo và báo chí. Tuy nhiên, cách tiếp cận trong những nghiên cứu đó hoặc chỉ thuần tuý về đạo đức kinh doanh, hoặc chỉ trên một chế định, một lĩnh vực pháp luật cụ thể, chưa có sự phân tích chuyên sâu theo hướng song hành giữa hai nhân tố này về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn các quan hệ kinh doanh một cách hệ thống. 3. Mục đích nghiên cứu của luận văn Xuất phát từ tình hình nghiên cứu đề tài như trên, trong Luận án này chúng tôi không đặt nặng vấn đề nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung mà đặt trọng tâm là liên hệ mối quan hệ đó vào lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay nhằm những mục đích và nhiệm vụ chủ yếu sau: - Phân tích mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh để nêu bật được vai trò của hai yếu tố này và mối quan hệ giữa chúng trong việc điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh cũng như tác động đến hiệu quả kinh doanh. - Phác thảo những nét cơ bản về thực thực tiễn pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của các hiện tượng được phản ánh và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật, tạo dựng thói quen hành xử theo đạo đức cho các chủ thể kinh doanh. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung và trong kinh doanh nói riêng; khảo sát và đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, thực hành

5 đạo đức nói chung và ở lĩnh vực kinh doanh nói riêng trong xã hội Việt Nam hiện nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít; quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng để phân tích các số liệu, các ví dụ thực tế trong thực tiễn pháp luật và đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các nhận định và đề xuất các giải pháp để phát huy tính tích cực của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trên thực tế, nâng cao ý thức và thói quen hành xử theo pháp luật và đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở nước ta. 6. Ý nghĩa của luận văn Luận văn được thực hiện trong bối cảnh nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào đời sống kinh tế thế giới. Bối cảnh đó đòi hỏi các nhà làm luật, các nhà quản lý và đặc biệt là giới doanh nhân Việt Nam cần có ý thức nghiêm túc hơn, sâu sắc hơn về vai trò của pháp luật và đạo đức trong kinh doanh để nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước và uy tín của giới doanh nhân Việt Nam. Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu cũng như trong thực tiễn hoàn thiện pháp luật và xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam. 7. Cơ cấu của Luận văn Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, Luận văn có kết cấu gồm ba chương như sau: Chương 1. Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh. Chương 2. Sự thể hiện của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

6 Chương 3. Một số giải pháp nhằm xây dựng ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật và đạo đức trong kinh doanh ở Việt Nam. Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC - LIÊN HỆ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH Trước khi bàn luận về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, đồng thời liên hệ vấn đề đó vào lĩnh vực kinh doanh, chúng tôi muốn khái quát những nội dung cơ bản nhất về các khái niệm này, coi đó là cái gốc đề nhìn nhận một cách tổng thể, rộng hơn, khái quát hơn về tầm điều chỉnh của pháp luật và đạo đức trong các quan hệ xã hội nói chung và trong kinh doanh nói riêng Các khái niệm cơ bản Pháp luật và pháp luật kinh doanh Khái niệm pháp luật Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm pháp luật, nhưng một cách chung nhất, trên cơ sở khái quát những thuộc tính và chức năng cơ bản nhất, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [38, tr. 288] Khái niệm pháp luật kinh doanh

7 Là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật kinh doanh được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành, hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong quan hệ kinh doanh. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh doanh - quan hệ kinh doanh - là quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh. Hoạt động đó, theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005, là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, kinh doanh là một khái niệm rất rộng. Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, nhưng kinh doanh không chỉ là tổ chức mua bán để thu lời" [25, tr. 326] (mua hàng hoá từ người cung cấp và bán lại cho người mua để tìm kiếm giá trị chênh lệch một cách giản đơn) như cách nhiều người quan niệm trước đây mà còn bao gồm một chuỗi các hoạt động từ đầu tư vốn, đầu tư công nghệ, xây dựng nhà xưởng, tổ chức, quản lý sản xuất, tìm kiếm thị trường, phân phối hàng hoá, cung cấp dịch vụ Tất nhiên, một nhà kinh doanh có thể thực hiện tất cả các khâu, hoặc một số khâu hay chỉ một khâu trong quá trình đó. Nhưng dù ở khâu nào, từ phức tạp nhất đến đơn giản nhất, từ thu lời nhỏ nhất đến có lãi cao nhất, thì vẫn không thể nhìn nhận nhà kinh doanh như những kẻ ăn trắng mặc trơn, làm giàu trên lưng người khác. Thị trường ngày càng tự do, mở rộng với rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước, do vậy kinh doanh thực sự là một đấu trường mà các nhà kinh doanh thực sự phải đầu tư rất nhiều thời gian, công sức, trí tuệ, tài chính... cho sự tồn tại và phát triển của mình. Do các mối quan hệ trong kinh doanh rất đa dạng và phức tạp (quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với nhà nước, quan hệ giữa các thành viên công ty, quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao động, quan hệ giữa cơ sở

8 kinh doanh với các nhà cung cấp và các khách hàng, quan hệ giữa cơ sở kinh doanh với các chủ thể khác trong xã hội, với môi trường ), nên tầm điều chỉnh của pháp luật kinh doanh cũng rất rộng. Hệ thống pháp luật kinh doanh bao gồm: pháp luật về hợp đồng, doanh nghiệp, cạnh tranh, tài chính, lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ, v.v Đạo đức và đạo đức kinh doanh Khái niệm đạo đức Theo nghĩa chiết tự, đạo là một cái đạo l ý, một cái lẽ nhất định, là ai cũng phải noi đấy mà theo [22; tr. 614]; đức có nghĩa là cái đạo để lập thân, thiện, làm thiện, cảm hóa đến người [22; tr.177]. Như vậy, đạo đức có thể hiểu là cái lẽ về việc thiện, là những chuẩn mực, những quy tắc, những quan niệm hình thành trong xã hội về lẽ sống, về tốt - xấu, về thiện - ác, về lương tâm, về danh dự... Đạo đức có phạm vi điều chỉnh rất rộng, ở nhiều mức độ khác nhau và hầu như bao khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội Khái niệm đạo đức kinh doanh: Đạo đức kinh doanh (business ethics) cũng được xây dựng trên những nền tảng cơ bản của đạo đức nói chung. Nó là tập hợp các nguyên tắc, các chuẩn mực điều chỉnh và kiểm soát hành vi kinh doanh của một cá nhân, một nhóm người hay một nhóm ngành nghề nhất định [36, tr. 9]. Những nguyên tắc nền tảng của đạo đức kinh doanh bao gồm: - Nguyên tắc rèn luyện tính quan tâm đúng mức; - Nguyên tắc bí mật; - Nguyên tắc trung thành với những trách nhiệm đặc biệt; - Nguyên tắc tránh sự xuất hiện xung đột về quyền lợi; - Nguyên tắc tự nguyện tuân thủ pháp luật; - Nguyên tắc hành động có thiện chí trong các cuộc đàm phán; - Nguyên tắc tôn trọng hạnh phúc của mọi người; - Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác [36, tr ]. Đạo đức trong kinh doanh được nhìn nhận ở tất cả các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp: quan hệ giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa doanh nghiệp với nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ, quan hệ giữa các cổ đông, các thành viên công ty với nhau, quan hệ giữa

9 người sử dụng lao động và người lao động, cách hành xử của doanh nghiệp đối với môi trường Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh cũng có thể hiểu một cách rộng hơn, ngoài các mối quan hệ trong hoạt động kinh doanh thuần túy, thể hiện qua những hành vi tương tự đạo đức hàng ngày của chủ thể kinh doanh với tư cách là một thành viên tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội như: đền ơn đáp nghĩa, làm từ thiện Nếu những hành động này được thực hiện một cách tự nguyện, xuất phát từ ý thức trách nhiệm của chủ thể kinh doanh đối với xã hội chứ không nhằm mục đích duy nhất là quảng cáo hình ảnh, đánh bóng tên tuổi thì đó cũng được coi là một hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, chúng tôi không bàn về đạo đức kinh doanh theo hướng là tất cả các hành vi đạo đức của chủ thể kinh doanh mà chỉ xem xét theo nghĩa hẹp, tức là đạo đức gắn liền với hoạt động kinh doanh. Theo nghĩa này, đạo đức trong kinh doanh có những khác biệt nhất định với đạo đức trong sinh hoạt, ứng xử hàng ngày. Bởi lẽ, người kinh doanh luôn phải quan tâm đến các yếu tố: lợi nhuận, thời cơ và thị trường. Quá trình tìm kiếm lợi nhuận trên thị trường cũng giống như phân chia một cái bánh, nếu người này được thêm một phần thì đương nhiên người kia sẽ không có phần đó. Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, còn hoạt động kinh doanh về bản chất không phải là làm từ thiện. Không ai kinh doanh mà không quan tâm đến lợi ích của mình trước tiên, kể cả những nhà kinh doanh có đạo đức nhất. Những quy tắc đạo đức trong kinh doanh, vì thế, cũng cho phép người ta hành xử khác với đạo đức trong sinh hoạt thường nhật. Ví dụ: Trong cuộc sống hằng ngày, các quy tắc đạo đức yêu cầu con người phải thật trung thực, thậm chí hi sinh lợi ích bản thân nếu như việc đạt được lợi ích đó sẽ gây tổn hại - dù ít, dù nhiều - đến chủ thể khác... Trong kinh doanh lại không hẳn như vậy. Chẳng hạn, khi tham gia một thương vụ, bên bán cố tình chào mức giá cao hơn mức mà tại đó họ có thể chấp nhận bán với lợi nhuận hợp l ý. Sau khi thương lượng, hai bên mua và bán đã thống nhất một mức giá thuận mua vừa bán, thấp hơn mức giá ban đầu bên bán đưa ra,

10 nhưng vẫn đảm bảo bên bán có lãi. Xét dưới góc độ đạo đức hàng ngày, hành động của bên bán là không hoàn toàn phù hợp với đạo đức vì anh ta đã cố tình nói thách, muốn bên mua chịu thiệt nhiều hơn để tối đa hoá lợi nhuận cho mình. Song trong kinh doanh, chuyện mặc cả, thương lượng để đạt tới một cái giá thuận mua vừa bán là một cách hành xử hết sức bình thường (trừ khi nói thách thái quá, lừa dối về giá trị hay ép giá ). Có nghĩa dưới góc độ đạo đức kinh doanh thì việc nâng khống giá lên một chút cũng chưa thể bị đánh giá là phi đạo đức. Bản thân bên bán cũng như bên mua hoàn toàn biết rõ và chấp nhận điều ấy. Ví dụ trên cho thấy rằng, quan niệm đạo đức trong kinh doanh có những tiêu chuẩn riêng mà đôi khi chúng ta không thể lấy những khuôn khổ tuyệt đối để áp đặt cho nó. Để đánh giá một hành vi, một quyết định là phù hợp hay không phù hợp với đạo đức kinh doanh, chúng ta cần xem xét trên cơ sở những chuẩn mực đạo đức chung kết hợp với đặc thù của nghề nghiệp này. Nói như Montesquieu: Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức về công bằng đúng mức. Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản đối đạo đức đơn thuần khiến người ta không muốn tranh chấp gay gắt về mình mà sao nhãng lợi ích người khác [27, tr. 168] Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức Pháp luật và đạo đức xét dưới giác độ xã hội đều tồn tại dưới dạng ý thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định. Giữa pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng. Chúng là hai khái niệm độc lập với nhiều điểm khác biệt, nhưng với tư cách là hai loại quy phạm xã hội quan trọng nhất trong việc điều chỉnh hành vi của mỗi con người, pháp luật và đạo đức về cơ bản chúng vẫn hướng tới những chuẩn mực chung. Sự khác biệt giữa pháp luật và đạo đức thể hiện ở con đường hình thành, hình thức, phạm vi điều chỉnh và tính chất điều chỉnh Pháp luật chỉ xuất hiện khi có giai cấp và nhà nước, trong khi những quy phạm đạo đức hình thành từ rất sớm trong xã hội loài người; pháp luật được hình thành một cách tự giác (do nhà nước ban hành) và được áp dụng chung, còn đạo đức thường hình thành mang tính tự phát và khác nhau với từng giai cấp, tầng lớp; pháp luật có thể tồn tại dưới hình thức thành văn và luôn chặt chẽ, chính xác, một

11 nghĩa, nhưng đạo đức lại không có văn bản chuyên biệt và thường rất chung chung, mỗi người có thể nhìn nhận một vấn đề đạo đức theo nhiều cách khác nhau; pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con người trong những loại quan hệ xã hội quan trọng nhất, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành vi trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người; pháp luật hướng tới duy trì một trật tự tối thiểu, còn đạo đức yêu cầu nhiều hơn về chân - thiện - mỹ; pháp luật có những quy phạm thuần túy mang tính kỹ thuật, quy trình, không mang tính luân lý và hoàn toàn nằm ngoài sự phán xét của đạo đức; pháp luật được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước, còn đạo đức được đảm bảo bằng những biện pháp cưỡng chế mang tính xã hội, do vậy, sự trừng phạt của pháp luật nghiêm khắc nhưng có thời hạn, còn sự trừng phạt của đạo đức đôi khi dai dẳng cả đời Mặc dù có những điểm khác biệt nhưng trong tổng thể chung của các quy phạm điều chỉnh hành vi của con người, pháp luật và đạo đức là hai yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hầu như không loại trừ nhau. Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng Nho gia đã khái quát rất sâu sắc về mối quan hệ này: Dẫn dắt bằng chính, chấn chỉnh bằng hình, dân chịu mà vô sỉ. Dẫn dắt bằng đức, chấn chỉnh bằng lễ, biết sỉ lại tiêu chuẩn, dân mới biết tự trọng và vào nề nếp [Khổng Tử, dẫn theo 29, tr. 35]. Chỉ có lòng thiện mà thôi thì lòng thiện chưa đủ sức cai trị, chỉ có luật pháp mà thôi thì luật pháp chẳng đủ sức làm cho người ta tuân theo [Mạnh Tử, Ly lâu - Thượng 1, dẫn theo 29, tr. 35]. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, pháp luật và đạo đức vẫn luôn tồn tại và khẳng định sức mạnh, tầm quan trọng của mình trong đời sống xã hội loài người, không cái nào triệt tiêu cái nào. Thậm chí, bước qua dần những rào cản về giai cấp, cùng với sự hoàn thiện theo hướng công bằng, bình đẳng của pháp luật và sự biến chuyển của các quan niệm đạo đức hiện đại, càng ngày pháp luật và đạo đức càng tiến đến gần nhau hơn trong tiêu chí đánh giá hành vi và bổ sung, hỗ trợ đắc lực cho nhau hơn khi điều chỉnh hành vi của con người - bằng chính những sự khác biệt của mình. Không thể đánh giá đạo đức và pháp luật cái nào quan trọng hơn và có sức mạnh hơn cái nào, đơn giản vì chúng mang trong mình những sức mạnh khác nhau và hai sức mạnh đó chỉ phát huy hết giá trị của mình trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Nói cách khác, cái chân lý tạo ra động lực phát triển đồng thời là triết lý phát triển không phải ở một bên đạo đức hay pháp luật mà chính là ở mối quan hệ biện chứng giữa đạo đức và pháp luật [29, tr. 38] Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh

12 Một cách cụ thể, mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và đạo đức được biểu hiện trên những khía cạnh sau: Đạo đức giúp lấp đầy những khoảng trống của pháp luật Như đã khẳng định ở trên, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con người trong những loại quan hệ xã hội quan trọng nhất để duy trì trật tự và sự phát triển bình thường của xã hội, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành vi trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người ở mọi lĩnh vực. Có nhiều lĩnh vực mà pháp luật không điều chỉnh được nhưng vẫn có quy phạm đạo đức điều chỉnh, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến tình cảm như quan hệ thầy trò, tình bạn, tình yêu hay những quy tắc trong giao tiếp, ứng xử Lẽ dĩ nhiên, chẳng thể vì lý do những lĩnh vực đó không có quy phạm pháp luật điều chỉnh mà cho rằng chúng không quan trọng. Trái lại, chúng là những gì gần gũi, thiết thân và thường nhật nhất trong đời sống mỗi con người. Nhưng các mối quan hệ này quá đa dạng, phức tạp, thiên biến vạn hoá, phụ thuộc vào tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của cá nhân và không một nhà làm luật nào có thể dự liệu chính xác cũng như đánh giá hết được các khả năng có thể xảy ra để đặt tiêu chí chung cho chúng. Mặt khác, pháp luật chỉ phán xét con người qua hành vi, nhưng đạo đức phán xét con người từ suy nghĩ - sự phán xét của lương tâm, do chính chủ thể tự phán xét trên nền tảng đạo đức xã hội mà người đó đã được hấp thu trong quá trình nhận thức, trưởng thành. Điều đó hoàn toàn nằm ngoài vùng phủ sóng của pháp luật và chính là sức mạnh của đạo đức. Do vậy, đạo đức bổ sung cho pháp luật, cùng với pháp luật trở thành hai công cụ quan trọng bậc nhất để quản lý xã hội và giáo dục con người, điều chỉnh hành vi của con người tới cái đúng đắn và cao hơn nữa là cái chân - thiện - mỹ. Trong lĩnh vực kinh doanh, về nguyên tắc, quyền tự do kinh doanh đảm bảo cho chủ thể kinh doanh có quyền được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, mà bản thân pháp luật thì chỉ có thể hoàn thiện dần chứ không bao giờ hoàn hảo. Pháp luật khó lòng đi trước, đón đường thực tiễn, nhưng mỗi khi xuất hiện một quan hệ mới cần điều chỉnh bằng pháp luật thì vẫn phải trải qua thủ tục xây dựng, ban hành quy phạm pháp luật hết nhiều bước và không ít thời gian. Ngược lại, đạo đức phản ứng một cách rất nhanh chóng với các quan hệ xã hội, các hiện tượng xã hội mới phát sinh trong hoạt động kinh doanh. Ngay khi chúng vừa xuất hiện, người ta đã có thể đưa ra những ý kiến về cách hành xử thế nào là đúng, thế nào là sai trên cơ sở những nguyên tắc đạo đức thông dụng, trong khi nhà làm luật có thể vẫn còn đang đắn đo xem vấn đề này có nhất thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật hay không, điều chỉnh như thế nào và ở mức độ ra sao

13 Thêm vào đó, pháp luật đôi khi chỉ phản ánh những tiêu chuẩn thấp nhất của đạo đức trong kinh doanh [36, tr. 11]. Vì vậy, một số hành vi thực tế xét trên phương diện đạo đức thì rất khó được chấp nhận, nhưng xét trên phương diện pháp lý lại không có gì vi phạm. Ví dụ: quyền sở hữu công nghiệp chỉ được bảo hộ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc theo điều ước quốc tế mà một nước ký kết hoặc tham gia. Đó là lý do khiến cho một số công ty Việt Nam bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (như tên thương mại và kiểu dáng công nghiệp) tại quốc gia khác. Với tư cách là chủ nhân thật sự của những sản phẩm trí tuệ đó, các công ty Việt Nam có thể bảo rằng họ (những kẻ dám ăn cắp thương hiệu) chơi xấu - ai cũng thừa nhận như vậy, chúng ta có thể kiện - không ai ngăn cản quyền đó, nhưng chúng ta lại không thể thắng - đơn giản vì sản phẩm của chúng ta chưa được bảo hộ ở các quốc gia này theo quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Tóm lại, bản thân phát luật không thể dự liệu hết được những tình huống có thể phát sinh trên thực tế, hoặc vì lý do này lý do khác mà không thể đáp ứng được khát vọng về sự công bằng cho tất cả mọi người, bởi thế mới nảy sinh hiện tượng "lách luật". Hành vi "lách luật" có thể gây hậu quả xấu, xâm phạm lợi ích của người khác nhưng về nguyên tắc nhà nước không thể xử lý vì không có quy phạm pháp luật điều chỉnh. Khi đó, điều ngăn chặn chủ thể kinh doanh có những hành vi gây hại không gì khác chính là đạo đức của họ. Dư luận xã hội, sự tẩy chay của người tiêu dùng hay sự bất hợp tác của những người vốn cùng hội cùng thuyền cộng với những dằn vặt về mặt nội tâm chính là cái giá mà nhà kinh doanh phải gánh chịu khi bỏ qua những giá trị đạo đức Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp Có một thực tế tất yếu là những nguyên tắc đạo đức được luật hoá ngày càng nhiều. Đây là sự thừa nhận công khai của nhà nước về tính đúng đắn, hợp tình, hợp lý của các quy phạm đạo đức và cũng là cách thức hữu hiệu để nhà nước bảo vệ chính những giá trị đạo đức này trước sự phát triển lạnh lùng của nền kinh tế và sức xâm thực ghê gớm của đồng tiền trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tính tất yếu của việc ghi nhận các giá trị đạo đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay được l ý giải bởi các nguyên nhân sau: Thứ nhất, đạo đức xuất hiện trước và là tiền đề làm nảy sinh các quy phạm pháp luật. Đây là nguyên nhân mang tính lịch sử. Pháp luật, với tư cách là những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, được ra đời cùng với sự hình thành của nhà nước và nhu cầu tất yếu phải có một hệ thống quy phạm chặt chẽ

14 để điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng. Tuy nhiên, xã hội loài người đã tồn tại hàng ngàn năm trước đó mà không cần đến pháp luật. Khi đó, các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các phong tục tập quán và các chuẩn mực đạo đức. Đạo đức được hiểu là những chuẩn mực, những quy tắc, quan niệm về lẽ sống, tốt - xấu, thiện - ác được hình thành trong cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận và có sức mạnh áp dụng đối với các thành viên của cộng đồng ấy. Pháp luật ban đầu cũng được xây dựng trên cơ sở những quy phạm xã hội có sẵn như phong tục tập quán và đạo đức. Thứ hai, đạo đức có sức mạnh không thể phủ nhận trong việc điều chỉnh hành vi của con người. Nếu như đằng sau các quy phạm pháp luật là một hệ thống các cơ quan công quyền luôn sẵn sàng bảo vệ như toà án, quân đội, cảnh sát thì đằng sau các quy phạm đạo đức - xét một cách độc lập với các quy phạm pháp luật - không hề có những thiết chế mang tính nhà nước để đảm bảo cho nó được thi hành. Tuy nhiên, sức mạnh cưỡng chế của đạo đức lại nằm ở một phương diện khác, đó là dư luận xã hội và sự tác động của lương tâm - tức là cả tác động bên ngoài và sự thúc giục bên trong. Vì lý do trên mà không hiếm khi con người có xu hướng chống lại các quy phạm pháp luật, nhưng lại dễ dàng chịu khuất phục trước một nguyên tắc đạo đức hết sức bình thường vì đơn giản họ đã lớn lên với tiềm thức và được giáo dục về nguyên tắc đạo đức đó trước khi biết đến các quy phạm mà nhà nước bắt buộc họ phải thực hiện. Thứ ba, sự xói mòn của ý thức đạo đức trong xã hội hiện đại. Đây là một câu chuyện rất cũ và được nói nhiều từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường. Một số người coi đó là chi phí cơ hội, tức là thứ lợi nhuận bị mất một cách đương nhiên khi chúng ta lựa chọn con đường phát triển kinh tế và như vậy hành vi của con người bị điều chỉnh bởi yếu tố lợi ích nhiều hơn là động cơ đạo đức. Dễ dàng nhận thấy nếu không được bảo vệ bằng một cơ chế có sức cưỡng chế hữu hình hơn thì những giá trị đạo đức tốt đẹp dần dần sẽ bị xâm phạm không thương tiếc và để lại những hậu quả đáng tiếc về nhiều mặt cho xã hội. Thứ tư, nhận thức của nhà làm luật về nhu cầu ghi nhận các giá trị đạo đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật. TÀI LIỆU THAM KHẢO Các văn kiện

15 1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Các văn bản pháp luật 2. Bộ luật Hình sự năm 1999; 3. Bộ luật Lao động năm 1994; 4. Luật Cạnh tranh năm 2004; 5. Luật Doanh nghiệp năm 2005; 6. Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003; 7. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002; 8. Nghị định số 54/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 3/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp; 9. Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương; 10. Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại; 11. Nghị định số 03/2006/NĐ-CP ngày 6/1/2006 của Chính phủ về việc điều chỉnh mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 12. Pháp lệnh bảo bệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999; 13. Quyết định số 708/1999/QĐ-BLĐTB&XH ngày 15/6/1999 Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về mức lương tối thiểu và tiền lương của lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

16 14. Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn ; 15. Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ; 16. Quyết định số 722/2003/QĐ-BHXH-BT ngày 26/5/2003 của Tổng giám đốc BHXH Việt Nam về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH và BHYT bắt buộc; 17. Quyết định số 217/2003/QĐ-TTg ngày 27/10/2003 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính, viễn thông; 18. Quyết định số 215/2004/QĐ-TTg về việc thực hiện giá bán điện sinh hoạt mới từ ngày 1/1/2005; 19. Thông tư số 117/2005/TT-BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết; Các chuyên đề, sách tham khảo 20. Tuấn Anh (2003), Đẩy nhanh tiến độ di dời các cơ sở gây ô nhiễm: cần sớm có giải pháp tổng thể, Báo Khoa học và Phát triển, số 26, ngày 2/6-2/7/2003, tr.10-11; 21. Bản tin Môi trường kinh doanh VCCI; số 4/2005; 22. Thiều Chửu (2001), Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội; 23. PGS, TS. Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; 24. Matt Haig, Bí quyết thành công 100 thương hiệu hàng đầu thế giới (Brand royalty: How the world s top 100 brands thrive & survive), bản dịch của NXB Tổng hợp TP. HCM, năm 2005; 25. Nguyễn Văn Hành (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội; 26. TS. Nguyễn Đình Đặng Lục (2005), Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách, NXB Tư pháp, Hà Nội;

17 27. Montesquieu, Bàn về tinh thần pháp luật - De l esprit des lois, bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2006; 28. TS. Phạm Duy Nghĩa - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; 29. PGS, TS. Hoàng Thị Kim Quế (2004), Những nét đặc thù và giá trị đương đại trong tư tưởng pháp luật của Khổng Tử, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9/2004, tr ; 30. PGS, TS. Hoàng Thị Kim Quế (2005), Tính con người và những vấn đề của đạo đức, pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5, tháng 2/2005, tr.5-9; 31. PGS, TS. Hoàng Thị Kim Quế (2005), Nghiên cứu nhà nước pháp quyền ở nước ta: Góp phần nhìn lại và suy ngẫm, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2005, tr. 9-14; 32. Tạp chí Tài chính, số 6 (500) 2006; 33. Thời báo Kinh tế Việt Nam, số 98, ngày 18/5/2005; 34. Tổng cục Thuế, Báo cáo sơ kết công tác thuế 6 tháng đầu năm 2006, Hà Nội, ngày 4/7/2006; 35. Tổng cục Thuế, Tài liệu tập huấn Thông tư số 117/2005/TT-BTC, Hà Nội, ngày 19/12/2005; 36. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (1996), Đạo đức Kinh doanh: Lý thuyết và thực hành, NXB Thống kê, Hà Nội; 37. Trường Đại học Luật Hà Nội (2001), Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội; 38. Trường Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật (2005), Giáo trình l ý luận chung về nhà nước và pháp luật, PGS, TS. Hoàng Thị Kim Quế chủ biên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; 39. Nigel Twose - WB tại Washington DC, USA (2002) (Hội thảo quốc gia về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh quốc gia, Hà Nội, 16-17/12/2002); 40. Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1996), Chuyên đề về cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền, Hà Nội;

18 Nguyễn Như Ý(2003), Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, Hà Nội.