TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ THỐNG KÊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Liên hệ: Phòng Cung Cấp Thông tin ĐC: 79 Trương Định, Quận 1, TP.HCM ĐT: (102-

Kích thước: px
Bắt đầu hiển thị từ trang:

Download "TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ THỐNG KÊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Liên hệ: Phòng Cung Cấp Thông tin ĐC: 79 Trương Định, Quận 1, TP.HCM ĐT: (102-"

Bản ghi

1 TRUNG TÂM THÔNG TIN VÀ THỐNG KÊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Liên hệ: Phòng Cung Cấp Thông tin ĐC: 79 Trương Định, Quận 1, TP.HCM ĐT: ( ) - Fax: Website: BẢN TIN SỐ 07/2019 A.THÔNG TIN THÀNH TỰU ĐIỆN - ĐIỆN TỬ - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Nghiên cứu đề xuất giải pháp triển khai IPv6 trong các hệ thống thông tin di động Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn mạng truy nhập quang thụ động GPON - Phần giao diện quản lý và điều khiển ONT Nghiên cứu các vấn đề bảo mật trong hệ thống thông tin di động 4G LTE Chế tạo thiết bị chỉ thị và cảnh báo sự cố trên lưới điện trung áp Chương trình máy tính bayesvl trong môi trường R: Đóng góp Việt cho khoa học thế giới Nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý và dự báo dân số tại các huyện ngoại thành TP.HCM Trường hợp cụ thể tại huyện Bình Chánh CƠ KHÍ CHẾ TẠO MÁY Nghiên cứu nâng cao khả năng cơ động cho đại đội pháo phòng không 37MN-2N phục vụ bắn trong hành quân Chế tạo hệ thống sấy hồng ngoại thông minh DS.IR-03 VẬT LIỆU HÓA CHẤT Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nền cấu trúc sợi nano Công nghệ chế tạo bột thạch anh từ nguồn nguyên liệu trong nước Mở khóa tiềm năng vật liệu 2D Nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng xúc tác quang hóa BiVO 4 trong phân hủy hợp chất hữu cơ độc hại sử dụng ánh sáng nhìn thấy Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 1/54

2 CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM Trà thảo dược từ lá xoài và dó bầu CÔNG NGHỆ SINH HỌC Phát hiện một giống loài ve sầu mới tại Việt Nam Tìm ra chất ức chế cỏ dại xâm lấn từ vỏ trấu Việt Nam có kết quả bước đầu về văcxin chống dịch tả heo châu Phi Nghiên cứu quy trình tinh sạch exopolysaccharide từ môi trường nuôi cấy Ophiocordyceps sinensis bổ sung dầu ô liu và khảo sát hoạt tính sinh học của chúng Tạo β - glucosidase siêu chịu nhiệt tái tổ hợp từ cổ khuẩn Pyrococcus furiosus trong Escherichia coli để sản xuất isoflavone từ đậu nành Y HỌC Ứng dụng WebGIS quản lý bệnh truyền nhiễm Nghiên cứu phân lập các hợp chất có khả năng kháng tế bào ung thư từ cam thảo nam Thoái hóa khớp: yếu tố nguy cơ và di truyền Phát hiện loài cây rừng kháng được bốn dòng ung thư Hoạt tính ức chế bệnh ung thư và HIV từ cây xạ đen NÔNG NGHIỆP VNPT Smart Agri: Thêm giải pháp hỗ trợ nông dân thời 4.0 Gieo "mùa vàng" trên đất mặn Phương pháp xử lý sầu riêng ra bông nghịch vụ Nghiên cứu ứng dụng chất tạo màng sinh học nhằm kéo dài thời gian bảo quản quýt Lại tạo thành công 3 giống thanh long cao cấp mới Lai tạo thành công giống nho mới chất lượng cao từ nho dại Nano bạc trong phòng và trị bệnh viêm móng bò sữa MÔI TRƯỜNG Nghiên cứu giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại các vùng núi cao Karst Đông Bắc Việt Nam. Áp dụng thử nghiệm tại vùng cao nguyên đá Đồng Văn SMARTPH: Tự động quan trắc nước thải, khí thải và bụi ngay tại nguồn Nghiên cứu ứng dụng nghiệp vụ mô hình bất thủy tĩnh để nâng cao chất lượng dự báo thời tiết cho khu vực Việt Nam Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 2/54

3 LĨNH VỰC KHÁC Tạp chí đầu tiên của Việt Nam được SCImago xếp hạng Q1 về lĩnh vực Vật liệu Ứng dụng tiến bộ khoa học trong khai thác xa bờ Nghiên cứu phát triển loại hình vận tải hành khách công cộng bằng đường thủy trên địa bàn TP.HCM Việt Nam gặt hái thành công lớn tại Triển lãm Quốc tế về Sáng chế của phụ nữ B. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ I. Các đơn vị trong nước: Nghiệm thu đề tài/dự án Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 3/54

4 A.THÔNG TIN THÀNH TỰU ĐIỆN - ĐIỆN TỬ - CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Nghiên cứu đề xuất giải pháp triển khai IPv6 trong các hệ thống thông tin di động Ngành công nghiệp viễn thông không dây đã chứng kiến một sự tăng trưởng to lớn trong mười năm qua với trên bốn tỉ thuê bao không dây trên thế giới. Hệ thống điện thoại tương tự thế hệ thứ nhất cung cấp truyền thông tiếng nói với khoảng cách giới hạn. Hệ thống số thế hệ thứ hai hứa hẹn khả năng cao hơn và tốt hơn về chất lượng âm thanh so với thế hệ thứ nhất. Tuy nhiên, chuyển vùng trở nên phổ biến hơn nhờ có các tiêu chuẩn và phân bổ phổ chung khắp các quốc gia đặc biệt là ở châu Âu. Các hệ thống di động thế hệ thứ hai được triển khai rộng rãi là GSM (hệ thống thông tin di động toàn cầu) và CDMA (đa truy nhập phân chia theo mã). Giống như hệ thống tương tự 1G, hệ thống 2G đầu tiên được thiết kế cho truyền thoại. Tuy nhiên, tốc độ dữ liệu chậm hơn so với tốc độ truyền dữ liệu được cung cấp trên các kết nối dial-up. Sáng kiến ITU-R đối với IMT-2000 mở đường cho sự phát triển tới 3G. Một tập các yêu cầu như là tốc độ tối đa 2 Mb/s và hỗ trợ tính di động của phương tiện được xuất bản tuân theo sáng kiến IMT Các mạng GSM và CDMA đều hình thành nên các dự án mạng 3G riêng (3GPP và 3GPP2) để phát triển IMT-2000 dựa theo các chuẩn cơ bản trên công nghệ CDMA. Để thúc đẩy sự phát triển của các hệ thống thông tin di động, năm 2017, các nhà nghiên cứu tại Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu đề xuất giải pháp triển khai IPv6 trong các hệ thống thông tin di động. Trên cơ sở phân tích các giải pháp kĩ thuật và công nghệ chuyển đổi IPv6, kinh nghiệm triển khai IPv6 trên thế giới, hiện trạng phát triển mạng di động tại Việt Nam, xu thế và yêu cầu phát triển mạng và dich vụ di động trong tương lai, kế hoạch và khả năng của các nhà mạng di động tại Việt nam, đề tài đưa ra lựa chọn giải pháp và lộ trình triển khai chung cho các hệ thống thông tin di động phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, cụ thể như sau: - Các công việc chuẩn bị và hỗ trợ quá trình chuyển đổi (thực hiện trước và trong quá trình chuyển đổi): - Giai đoạn 1 ( ): Chuyển đổi Dual-stack - Giai đoạn 2 ( ): Triển khai 464XLAT Đề tài cũng đã đưa ra một số đề xuất cho các cơ quan quản lý, nhằm thúc đẩy và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang IPv6, và một số khuyến nghị thực hiện chuyển đổi cho các nhà mạng và nhà cung cấp dịch vụ di động với mục tiêu hỗ trợ và giúp ích cho quá trình triển khai IPv6 được thuận lợi, đạt được các lợi ích về kinh doanh và đảm bảo chất lượng dịch vụ cho khách hàng trong quá trình chuyển đổi. Các yếu tố hỗ trợ bao gồm: đầu Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 4/54

5 tư, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tín dụng, tiền thuê đất, thuê mặt nước (Điều 19 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014), ưu đãi đối với doanh nghiệp hoạt động trong khu Công nghệ thông tin tập trung và thị trường. Ngoài ra, đề tài cũng khuyến nghị về các tiêu chuẩn Kiến trúc chuyển đổi IPv4-IPv6 trong mạng di động như 3GPP TS : "General Packet Radio Service (GPRS) enhancements for Evolved Universal Terrestrial Radio Access Network (E-UTRAN) access"; 3GPP TS : "Architecture enhancements for non-3gpp accesses"; 3GPP TS : "General Packet Radio Service (GPRS) Service description; Stage 2"; 3GPP TS : "Mobile radio interface Layer 3 ************* specification; Core network protocols; Stage 3"; 3GPP TR : "Interworking aspects and migration scenarios for IPv4 based IMS implementations". Các tiêu chuẩn giải pháp chuyển đổi (XLAT, NAT64/DNS64, GI-DS- Lite) cũng được đưa ra như RFC 6146: Stateful NAT64: Network Address and Protocol Translation from IPv6 Clients to IPv4 Servers ; RFC 6147: DNS64: DNS Extensions for Network Address Translation from IPv6 clients to IPv4 Servers ; IETF RFC 7618: Dynamic Allocation of Shared IPv4 Addresses. Nguồn: N.P.D (NASATI), vista.gov.vn, 27/06/2019 Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn mạng truy nhập quang thụ động GPON - Phần giao diện quản lý và điều khiển ONT Mạng PON đã được phát triển trong khoảng 15 năm trở lại đây và được hai tổ chức thực hiện tiêu chuẩn hóa, đó là ITU-T và IEEE. EPON và 10G-EPON là các tiêu chuẩn mới nhất được IEEE phê chuẩn. APON, BPON, GPON, XG-PON là các tiêu chuẩn do ITU-T phát triển. Cũng là tiêu chuẩn hóa cho mạng PON nhưng giữa hai công nghệ có những điểm khác biệt. EPON và GPON đều cho phép tốc độ đạt đến Gbps. Tuy nhiên EPON dựa trên dựa trên chuẩn Ethernet IEEE được hiệu chỉnh để hỗ trợ kết nối điểm - đa điểm. Lưu lượng Ethernet được truyền tải nguyên bản và tất cả các thuộc tính ethernet được hỗ trợ đầy đủ. Còn GPON lại khác, đặc biệt là về giao thức truyền tải, trong đó, các dịch vụ ethernet được tương thích ở các giao diện ethernet OLT và ONU, đóng gói khung GEM và truyền tải khung đồng bộ từ đầu cuối đến đầu cuối. Lựa chọn công nghệ GPON để triển khai tại Việt Nam đã được các nhà mạng thực hiện, đến thời điểm hiện nay, thuê bao internet quang chiếm tỷ lệ lớn trong các nhà cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên việc tiêu chuẩn hóa GPON lại chưa được thực hiện đầy đủ. Bên cạnh việc các quốc gia, doanh nghiệp phát triển, ứng dụng công nghệ GPON phổ biến như hiện nay thì họ tiêu chuẩn GPON của ITU- G.984 còn là tài liệu tham khảo, là cơ sở cho các tổ chức tiêu chuẩn khác phát triển các tiêu chuẩn cho thiết bị như các tiêu chuẩn về tương thích của ETSI xây dựng. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 5/54

6 Như vậy, để cho việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn được hiệu quả thì Việt Nam cần xây dựng các tiêu chuẩn quan trọng cho mạng quang thụ động dựa trên công nghệ GPON. Một trong các tiêu chuẩn thành phần quan trọng đó là tiêu chuẩn cho - Phần giao diện quản lý và điều khiển ONT. Vì thế, đề tài: Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn mạng truy nhập quang thụ động GPON - Phần giao diện quản lý và điều khiển ONT đã được các nhà khoa học tại Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông thực hiện vào năm ThS. Nguyễn Việt Thắng làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài nhằm mục tiêu chuẩn hóa cho hệ thống truy nhập quang thụ động GPON. Hoàn thiện bộ tiêu chuẩn về Hệ thống truy nhập quang thụ động GPON. Thông qua nghiên cứu tình hình ứng dụng trong nước và ngoài nước về công nghệ mạng GPON và nhhiên cứu tình hình tiêu chuẩn hóa công nghệ GPON trong nước và ngoài nước, đề tài đã: ************* - Xây dựng dự thảo tiêu chuẩn về Hệ thống truy nhập quang thụ động GPON - Giao diện quản lý và điều khiển ONT - Xây dựng dự thảo tiêu chuẩn về Mạng truy nhập quang thụ động GPON - Giao diện quản lý và điều khiển ONT. Dựa thảo tiêu chuẩn được cấu trúc theo hướng dẫn mới nhất của Vụ KHCN - Bộ thông tin và truyền thông bao gồm: 1. Phạm vi áp dụng; Tài liệu viện dẫn; Thuật ngữ và định nghĩa; Ký hiệu và từ viết tắt Báo cáo đề tài 010/17- KHKT-TC; Sự thỏa thuận; Các điều khoản và mô hình tham chiếu; Các yêu cầu đặt tả giao diện quản lý; Giao thức độc lập MIB cho OMCI; Mô tả MIB; Kênh kiểm soát và quản lý ONT (OMCC); Giao thức điều khiển và quản lý ONT. Nguồn: N.P.D (NASATI), vista.gov.vn, 27/06/2019 Nghiên cứu các vấn đề bảo mật trong hệ thống thông tin di động 4G LTE Nhóm nghiên cứu tại Viện Khoa học kỹ thuật bưu điện thuộc Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông do ThS. Lê Xuân Trung làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu các vấn đề bảo mật trong hệ thống thông tin di động 4G LTE. Đề tài đã nghiên cứu các vấn đề bảo mật trong hệ thống thông tin di động 4G LTE, trong đó đã hệ thống lại các vấn đề bảo mật của hệ thống GSM và 3G UMTS. Các vấn đề bảo mật khi thay đổi trạng thái: đăng ký và xóa đăng ký, chuyển đổi trạng thái giữa idle và connected, trạng thái idle di động, chuyển giao được nghiên cứu. Các giải thuật mã hóa trong EPS bao gồm giải thuật Null, giải thuật mã hóa, giải thuật toàn vẹn cũng được đề cập. Từ đó, đề tài đã tổng hợp các nguy cơ bảo mật ở mạng LTE và trình bày các giải pháp bảo vệ mạng LTE một cách hiệu quả để khắc phục các nguy cơ này. Cuối cùng, đề tài đã đưa ra khuyến nghị với nhà mạng, người sử dụng và Bộ thông tin truyền thông. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 6/54

7 Để bảo vệ mạng thông tin di động 4G và bảo vệ khách hàng, các nhà mạng di động 4G cần phải: - Hiểu biết sâu sắc về kiến trúc bảo mật 4G LTE, các tính năng bảo mật ở miền mạng truy nhập, miền mạng, miền người sử dụng, miền dịch vụ; phân tích các nguy cơ khác nhau và các giải pháp bảo vệ cho mạng di động 4G LTE; - Tiến hành một phương pháp có hệ thống để thực hiện các giải pháp bảo mật trong mạng của mình; các giải pháp bảo mật các điểm đơn lẻ là không đủ; - Phân chia mạng thành các vùng bảo mật logic, bằng sơ đồ phân chia này, nhà mạng di động có thể đánh giá mức độ quan trọng của thông tin trong mỗi vùng, các kiểu tấn công trong mỗi vùng và cơ chế bảo vệ tốt nhất trong mỗi vùng; - Cần xác định kiểu lưu lượng và các dịch vụ dữ liệu được cung cấp, sau đó phân tích các nguy cơ bảo mật cụ thể đối với các dịch vụ này nhằm quyết định lựa chọn giải pháp bảo mật phù hợp; - Thận trọng lựa chọn, thay đổi các chính sách bảo mật phù hợp phản ánh đúng các nguy cơ bảo mật trong mạng của mình; và phản ánh tốt các nguy cơ bảo mật mới; - Triển khai đa dạng các sản phẩm bảo mật trong mạng như các bức tường lửa, các hệ thống phát hiện và ngăn ngừa xâm nhập (IDP), các mạng riêng ảo (VPN) ở các điểm phù hợp trong mạng; - Các nhà mạng di động cần hợp tác với nhau, hợp tác với các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP), và các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông khác để đảm bảo rằng mức độ bảo mật nhỏ nhất vẫn rất mạnh chống lại các tấn công; Người sử dụng nên: - Người dùng đầu cuối nên cài các phần mềm diệt virus để giảm thiểu rủi ro bị mất dữ liệu, mất các thông tin nhạy cảm. - Tắt GPS khi không thực sự cần thiết để tránh lộ thông tin về vị trí cá nhân; - Không cài đặt các phần mềm từ nguồn không đáng tin cậy; - Cập nhật phần mềm theo định kỳ của nhà sản xuất thiết bị để đảm bảo tính bảo mật và vá lỗi hệ thống; - Thông tin đến nhà mạng trong trường hợp có thông tin tính cước hoặc thiết bị UE xuất hiện tín hiệu bất thường. Về việc tiêu chuẩn hoá theo các khuyến nghị của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, Bộ Thông tin và Truyền thông nên xem xét xây dựng một bộ tiêu chuẩn về bảo mật mạng 4G LTE và khuyến nghị các nhà mạng di động 4G LTE thực hiện theo các đặc tả kỹ thuật sau đây: - Kiến trúc bảo mật của mạng 4G cần được xây dựng dựa trên một tập các tính năng bảo mật và các cơ chế bảo vệ được định nghĩa ở đặc tả 3GPP TR System Architecture Evolution (SAE); Security architecture và TR Security aspects of non-3gpp accesses ; - Bảo mật lớp báo hiệu và điều khiển NAS và AS: xây dựng dựa trên tài liệu của 3GPP TS Non-Access-Stratum (NAS) protocol for Evolved Packet System (EPS); Stage 3. - Bảo mật truy nhập mạng: Nhà mạng có quyền lựa chọn các thuật toán tạo khoá và xác thực AKA. Thuật toán phải đáp ứng được các yêu cầu được đặc tả ở TS Cryptographic algorithm requirements. Để đạt được sự liên hoạt động giữa các sự thực hiện USIM khác nhau và HSS, sẽ trở nên dễ Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 7/54

8 dàng hơn nếu sử dụng một thuật toán tiêu chuẩn. - Bảo mật miền mạng: Đối với bảo mật miền mạng có thể tham khảo các đặc tả sau: TR Study on Security Assurance methodology for 3GPP network products và TR Pilot development of Security Assurance Specification (SCAS) for MME (Mobility Management Entity) network product class. Phương pháp cơ bản để bảo mật miền mạng IPsec. IPsec được đặc tả trong các tiêu chuẩn của RFC Các ************* cơ chế bảo mật IPsec được sử dụng trong kiến trúc bảo mật 3GPP cho cả bảo mật các mạng dựa trên IP và bảo mật truy nhập IMS. IPsec là phần bắt buộc ở IPv6, và lựa chọn ở IPv4. Các thuộc tính bảo mật của IMS được đặc tả trong 3GPP IMS access security bắt đầu ở phiên bản 5. Khuyến nghị về các thuộc tính bảo mật IMS nên thực hiện theo các đặc tả kỹ thuật của 3GPP. Nguồn: NASATI, vista.gov.vn, 26/06/2019 Chế tạo thiết bị chỉ thị và cảnh báo sự cố trên lưới điện trung áp Dự án do Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hoà chủ trì thực hiện. ThS. Nguyễn Thanh Lâm chủ nhiệm. Hội đồng KH&CN cấp tỉnh đã tổ chức họp nghiệm thu ngày 05/6/2019, hội đồng đánh giá cao về kết quả của dự án với một số sản phẩm vượt trội so với hợp đồng đã ký với Sở KH&CN và sản phẩm có tính thực tiễn cao, kết quả xếp loại xuất sắc. Qua thời gian thực hiện từ tháng 12/2017-3/2019, kết quả dự án: Đã sản xuất hoàn thiện và lắp đặt 100 thiết bị SRFI trên lưới điện KHCP; 1 phần mềm cấu hình thiết bị trên smartphone; 1 phần mềm cấu hình thiết bị trên máy tính; 1 phần mềm thu thập và giám sát hệ thống sự cố lưới điện (FDS); bộ bản vẽ thiết kế thiết bị SRFI; bảng số liệu theo dõi đánh giá quá trình lắp đặt thử nghiệm. Tính năng của thiết bị: là phát hiện sự cố, có tín hiệu cảnh báo, cài đặt và reset sau sự cố, truyền thông (qua GMS (tin nhắn SMS), hồng ngoại IR, RF tần số Mhz, anten), kết nối SCADA. Thiết bị chỉ thị và cảnh báo sự cố SRFI đã tiết kiệm được chi phí vô cùng lớn so với mua sản phẩm ngoại nhập. Sau khi đưa vào khai thác, thiết bị đã thể hiện tiện ích và ưu điểm vượt trội, góp phần giảm thời gian xử lý sự cố, hỗ trợ công tác quản lý vận hành và điều độ hệ thống điện phân phối, nhờ đó ngành điện có thể nâng cao năng lực giám sát quản lý lưới điện, góp phần nâng cao trình độ tin cậy cung cấp điện để phục vụ khách hành tốt hơn, giảm thiệt hại cho ngành điện và cho nền kinh tế. Dự án đã tạo ra sản phẩm điện tử thông minh, giải pháp kỹ thuật đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và ngoài nước, góp phần tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm công nghệ cao được chế tạo trong nước, tiết kiệm được lượng lớn ngoại tệ nhập khẩu cho đất nước. Nguồn: Sở KH&CN Khánh Hoà, khoahocphattrien.vn, 09/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 8/54

9 ************* Chương trình máy tính bayesvl trong môi trường R: Đóng góp Việt cho khoa học thế giới Hình ảnh được sản xuất bởi chương trình bayesvl. Mới đây, chương trình máy tính bayesvl chạy trên môi trường R do TS. Vương Quân Hoàng và kĩ sư Lã Việt Phương (Trung tâm Nghiên cứu Xã hội Liên ngành ISR, Đại học Phenikaa) thiết kế và phát triển chính thức được ra mắt trên CRAN - hệ thống thư viện chuẩn của R - tại địa chỉ xuất bản: Chương trình bayesvl được thiết kế với định hướng sư phạm, hỗ trợ người sử dụng làm quen với phương pháp thống kê Bayesian dựa trên mô hình lưới Bayesian, mô phỏng MCMC, hình ảnh hóa các thông số kĩ thuật và kết quả. Có thể hiểu đơn giản bayesvl giúp dựng mô hình rồi tạo ra code stan, và sau đó tận dụng các hàm vẽ đồ họa của chương trình. Hướng tới khoa học mở, ngay từ trong quá trình phát triển, chương trình đã được các tác giả đăng tải trên trang chia sẻ phần mềm và code GitHub. Kĩ sư Lã Việt Phương, một trong hai tác giả phát triển chương trình, cho biết: bayesvl được lên ý tưởng từ cuối năm 2017 đến nay. Trong thời gian đó, phương pháp Bayesian đã được Trung tâm ISR nghiên cứu, thử nghiệm, và sử dụng thành công trong các công bố khoa học của trung tâm. Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp này cần nhiều thời gian làm quen do sự phức tạp của các chương trình đã được phát triển sẵn như rstan. Chúng tôi nhận thấy nhu cầu thiết thực cho một chương trình thống kê Bayesian dễ sử dụng, nên đã bắt tay vào thiết kế và triển khai dự án. Sau hơn 18 tháng, và hơn 3000 dòng code, chương trình bayesvl cuối cùng đã chính thức được CRAN chấp nhận và xuất bản. Hình ảnh được sản xuất bởi chương trình bayesvl. Đầu năm 2018 đến nay, Trung tâm ISR đã áp dụng phương pháp Bayesian thành công trong nghiên cứu về truyện cổ tích và văn hóa Việt Nam trên tạp chí Palgrave Communications thuộc Nature Research. Sau đó, từ đầu năm 2019 đến nay, trung tâm đã sử dụng bayesvl trong 2 công bố trên tạp chí Data [ESCI; Scopus] thuộc nhà xuất bản MDPI, và một bản thảo về tiếp biến văn hóa và phố cổ Hà Nội đang trong quá trình phản biện. Ngày 18/5/2019, chương trình được nộp vào hệ thống CRAN và sau 4 lần chỉnh sửa theo yêu cầu của kĩ thuật viên của CRAN, phiên bản chính thức được xuất bản vào ngày 24/5/2019 với tên gọi: bayesvl: Visually Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/2019 9/54

10 Learning the Graphical Structure of Bayesian Networks and Performing MCMC with 'Stan'. Hình ảnh được sản xuất bởi chương trình bayesvl. Anh Nguyễn Minh Hoàng, du học sinh tại trường Đại học Ritsumeikan Asia Pacific University, Nhận Bản, đã sử dụng bayesvl từ phiên bản 0.6 khi chương trình vẫn còn trong giai đoạn phát triển. Anh nhận xét: Mình đã tìm đọc và làm quen với phương pháp Bayesian trong suốt thời gian nghiên cứu thạc sĩ từ năm Tuy nhiên, việc ứng dụng nó vào thực tế lại rất khó khăn do bản thân phương pháp, dù mạnh mẽ, nhưng chưa phổ biến do sự phức tạp của các yếu tố toán học và code máy tính. Chính vì vậy, ngay khi biết đến bayesvl trên GitHub, mình đã thử sử dụng theo hướng dẫn. Chương trình này được thiết kế dễ hiểu, giảm thiểu thời gian làm quen tiếp cận để sử dụng thành thạo code máy tính. Đồng thời, bayesvl cũng kích thích người dùng đầu tư vào công đoạn thiết kế đầu bài cũng như mô hình tính toán để quá trình triển khai thuận lợi. Mình khá ưng ý với sư đầu tư vào sản xuất hình ảnh của chương trình. Mô hình hay kết quả đều được thể hiện rõ ràng qua đồ họa, giúp quá trình làm luận án của mình thuận lợi hơn rất nhiều. Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, ngay cả các nghiên cứu lĩnh vực KHXH&NV cũng đang dần chuyển mình trước làn sóng dữ ************* liệu, khoa học mở, và phương pháp thống kê. Khi các tranh luận về ý nghĩa thống kê và tái xác lập kết quả vẫn đang là chủ đề rất được quan tâm đối với giới khoa học toàn cầu, chương trình bayesvl do hai tác giả Việt Nam xuất bản là một đóng góp quan trọng về phương pháp luận cho cộng đồng khoa học Việt Nam và thế giới. Trong tương lai, các tác giả hy vọng sẽ có thêm nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước tìm đến và sử dụng bayesvl. R là ngôn ngữ lập trình và môi trường phần mềm hoàn toàn miễn phí được thiết kế cho tính toán thống kê và đồ họa. Hiện nay, R được sử dụng rộng rãi cho việc phát triển các chương trình thống kê và phân tích dữ liệu. Là ngôn ngữ lập trình mã nguồn mở, các tính năng cho R luôn được mở rộng và cải thiện thông qua các gói phần mềm (package), thường là do người dùng thiết kế và xây dựng. Các gói phần mềm này mở rộng thêm tính năng thống kê hay sản xuất hình ảnh, phục vụ nhu cầu phức tạp và đa dạng của người dùng. CRAN hay Comprehensive R Archive Network là thư viện lưu trữ, phân phối các phiên bản chính thức của R và hơn gói phần mềm, hay các phần code bổ sung cho R. Bên cạnh CRAN, người dùng còn có thể tìm kiếm thêm các gói phần mềm này trên các hệ thống khác như GitHub, Omegahat hay Bioconductor. Nguồn: Hoàng Phương Hạnh (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), khoahocphattrien.vn, 13/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

11 Nghiên cứu ứng dụng GIS trong quản lý và dự báo dân số tại các huyện ngoại thành TP.HCM Trường hợp cụ thể tại huyện Bình Chánh Đề tài do tác giả Phan Đình Phước và cộng sự (Trung tâm Phát triển KH&CN Trẻ) thực hiện nhằm ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) xây dựng dữ liệu phục vụ công tác quản lý và dự báo dân số cho huyện Bình Chánh, TP.HCM. Cùng với quá trình đô thị hóa, dân số các quận ngoại thành TP.HCM đang có xu hướng gia tăng ngày càng nhanh. Chỉ tính riêng giai đoạn , tỷ lệ gia tăng dân số trung bình 5 huyện ngoại thành là 3,7%/năm. Trong đó, những huyện có tỷ lệ gia tăng cao như huyện Bình Chánh (5,7%), Nhà Bè (5,6%). Theo dự báo dân số từ nay đến năm 2025 thì khu vực ngoại thành có tỷ lệ gia tăng cao nhất tại TP.HCM, đặc biệt là huyện Bình Chánh nằm ở cửa ngõ Tây Nam của thành phố, tiếp giáp với các tỉnh khu vực miền Tây và là nơi tập trung nhiều khu, cụm công nghiệp do chính sách di dời các nhà máy sản xuất ra ngoại thành. Những vấn đề này đã làm cho Bình Chánh trở thành huyện có tốc độ gia tăng dân số cao nhất thành phố. Để quản lý và dự báo gia tăng dân số một cách hiệu quả, công nghệ GIS sẽ tham gia vào quá trình. Các nhóm dữ liệu thu thập tại các địa phương (thông qua khảo sát, phỏng vấn) sẽ được xử lý và nhập trực tiếp vào hệ thống cơ sở dữ liệu GIS. Do vậy, các số liệu này sẽ được quản lý hoàn toàn bằng GIS ngay từ trong quá trình điều tra. Tại các nước tiên tiến có sử dụng GIS trong việc thực hiện các cuộc tổng điều tra, dữ liệu kinh tế - xã hội thường rất chi tiết, thậm chí chi tiết với mức độ từng cá nhân (theo dạng hồ sơ ẩn danh), từng ô phố, vì vậy khả năng quản lý dân số thông qua GIS cũng được hỗ trợ mạnh hơn với nền tảng dữ liệu tham chiếu địa lý này. Trong đề tài này, nhóm tác giả thực hiện phân tích thực trạng công tác quản lý dân số tại TP.HCM; xây dựng cơ sở dữ liệu về quy mô dân số, mật độ dân số, cơ cấu dân số, gia tăng dân số các xã thuộc huyện Bình Chánh nhằm quản lý và dự báo dân số thông qua công nghệ GIS; đề xuất giải pháp và mô hình ứng dụng phù hợp nhằm quản lý và dự báo dân số. Kết quả, đã xây dựng CSDL địa lý về dân số của huyện Bình Chánh dưới dạng geodatabase bao gồm: bản đồ nền (giao thông, thủy hệ, hành chính ở tỉ lệ 1/25.000); số liệu dân số (quy mô dân số, biến động dân số, dự báo dân số, lao động, hộ, nhân khẩu, dân tộc, tôn giáo, trong giai đoạn ). Thiết kế, lập trình WebGIS hỗ trợ công tác quản lý và dự báo dân số trên địa bàn huyện Bình Chánh với giao diện thiết kế linh hoạt, phù hợp cho từng đối tượng (cán bộ quản lý và người dân) sử dụng trên nền tảng công nghệ PostgreSQL/PostGIS, Geoserver, PHP, OpenLayers, GeoExt, ExtJS, ArcGIS Desktop, Udig. Đề xuất phương án triển khai WebGIS hỗ trợ công tác quản lý và dự báo dân số trên địa bàn huyện Bình Chánh liên quan đến các khía cạnh bao gồm: lựa chọn đơn vị tiếp nhận; đầu tư hệ thống server; cập nhật, sao lưu dữ liệu cho WebGIS; phổ biến WebGIS đến người sử dụng; đào tạo cán bộ kĩ thuật phụ trách vận hành WebGIS. Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 01/07/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

12 CƠ KHÍ CHẾ TẠO MÁY Nghiên cứu nâng cao khả năng cơ động cho đại đội pháo phòng không 37MN-2N phục vụ bắn trong hành quân Các hệ thống phòng không cơ động luôn được quan tâm phát triển và luôn ở trình độ công nghệ cao. Trong các dạng tổ hợp phòng không cơ động, các hệ thống phòng không tầm thấp giữ vai trò quan trọng, phục vụ cho nhiệm vụ phòng không nói chung cũng như phục vụ cho bảo vệ một đối tượng cụ thể nào đó, đặc biệt là bảo vệ cho đội hình hành quân. Chính vì vậy, tính cơ động của chúng là nội dung được quan tâm đặc biệt. Để đảm bảo tính cơ động, các tổ hợp phòng không tầm thấp thường được tích hợp trên các loại xe hạng nặng, bánh lốp hoặc bánh xích. Trên xe được tích hợp các loại khí tài trinh sát như rađa, hệ thống quang điện tử (đo xa laser, camera ánh sáng ngày và camera ảnh nhiệt hồng ngoại), Các hệ thống điều khiển bám sát mục tiêu, các hệ thống điều khiển truyền động pháo và điều khiển hoả lực, các hệ thống thông tin liên lạc, chỉ huy... và hệ thống tự động ổn định đường ngắm của hệ trinh sát và hoả lực để dảm bảo khả năng tác chiến trong điều kiện cơ động. Qua phân tích trên, việc nâng cao khả năng cơ động của vũ khí, trang bị kỹ thuật nói chung và nâng cao khả năng cơ động cho các trận địa PPK 37mm-2N đánh ngày và đêm là một vấn đề hết sức quan trọng, đặc biệt trong ************* chiến tranh hiện đại, khi mà các cuộc tập kích đường không có độ chính xác rất cao, diễn ra cả ban ngày và ban đêm, trong đó ban đêm là chủ yếu. Vì thế, nhóm nghiên cứu tại Viện Tự động hóa kỹ thuật quân sự do ThS. Trần Ngọc Bình làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu nâng cao khả năng cơ động cho đại đội pháo phòng không 37MN-2N phục vụ bắn trong hành quân từ năm 2012 đến Sau khi thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, các mô đun được lắp đặt hoàn thiện thành hệ thống. Việc lắp đặt luôn tuân thủ đúng qui trình theo thiết kế đã được phê duyệt. Sản phẩm của đề tài được thiết kế chế tạo mới theo các thiết kế của đại đội pháo phòng không đánh đêm tự động đã được phê duyệt và thiết kế mới đảm bảo các tính năng vượt trội của đề tài. Sản phẩm của đề tài đã được lắp đặt bao gồm: Xe chỉ huy, Bàn điều khiển hệ hống, Hệ thống la bàn và GPS trên xe chỉ huy, Hệ thống la bàn trên pháo, Hệ thống GPS trên pháo, Hệ thống so kim điện tử trên pháo, Hệ thống điều khiển truyền động trên pháo, Trung tâm thu thập và điều khiển trên pháo, Hệ thống nguồn trên pháo, Hệ thống truyền vô tuyến và hữu tuyến, Hệ thống phân phối vào ra và nguồn ra pháo, Hệ thống Quang điện tử, Hệ thống pháo thử nghiệm tại xưởng và Hệ thống Pháo bắn nghiệm thu tại trường bắn TB1. Nguồn: NASATI, vista.gov.vn, 26/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

13 Chế tạo hệ thống sấy hồng ngoại thông minh DS.IR-03 TS. Nguyễn Tấn Dũng đang kiểm tra lại đèn hồng ngoại và các thành viên trong nhóm nghiên cứu RG-04 đang vận hành hệ thống sấy. Với sự hướng dẫn của TS.Nguyễn Tấn Dũng, cùng các cộng sự ThS. Lê Tấn Cường và KS. Lê Văn Hoàng, Trường ĐH sư phạm kỹ thuật TP.HCM, nhóm nghiên cứu RG-04 gồm các sinh viên năm cuối ngành công nghệ thực phẩm: Ngô Vũ Đông Khải, Lê Tấn Tài, Phạm Ngọc Huy, Nguyễn Phúc Quang Bảo, Hoàng Hải, Nguyễn Bá Tùng, Mai Nguyễn Anh Tú, Hoàng Khánh Dương đã tính toán, thiết kế và chế tạo thành công hệ thống sấy hồng ngoại thông minh DS.IR-03. TS.Nguyễn Tấn Dũng phấn khởi nói: Làm chủ được công nghệ này, Việt Nam chúng ta hoàn toàn đủ tự tin và có đủ năng lực triển khai ứng dụng vào thực tế sản xuất, thay thế máy móc thiết bị ngoại nhập, góp phần phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ sau thu hoạch của đất nước. Bên cạnh đó, làm nâng cao giá trị hàng hóa nông sản sấy khô phục vụ cho tiêu dùng và xuất khấu, giúp ngành nông nghiệp ổn định đầu ra và để phát triển. Hệ thống sấy hồng ngoại thông minh DS.IR-03 là một phiên bản hoàn toàn khác các phiên bản trước đây DS.IR-01 và DS.RI- 02 về mặt kỹ thuật, kiểm soát quá trình sấy thông minh hơn, tiết kiệm năng lượng hơn. Quá trình sấy bằng bức xạ hồng ngoại có bước sóng (700 nm 1 mm), điều khiển được cường độ bức xạ E (W/m2) và sự truyền nhiệt của chúng không phải là thông thường theo quy luật của Fourier và Newton, mà do dao động nhiệt của các photon phát ra từ bức xạ hồng ngoại va chạm và truyền động năng cho các electron trong môi trường sấy và vật liệu sấy, dẫn đến vật liệu sấy cũng như môi trường trong buồng sấy nhanh đạt đến nhiệt độ yêu cầu và đồng đều, làm quá trình tách ẩm xảy ra nhanh hơn, rút ngắn thời gian sấy, kết thúc quá trình sấy hơm sớm hơn. TS.Nguyễn Tấn Dũng cho biết thêm, hệ thống sấy có các thông số công nghệ được kiểm soát rất chặt chẽ, như: nhiệt độ môi trường sấy, vận tốc tác nhân sấy, thời gian sấy và cường độ bức xạ hồng ngoại bằng chương trình trên máy tính để khi tiến hành quá trình sấy tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt nhất, độ ẩm đạt yêu cầu, kéo dài được thời gian sử dụng, đồng thời giảm tối thiểu chi phí năng lượng, giảm giá thành sản phẩm. Với giá chi phí điện năng tăng như hiện nay thì đây được xem là giải pháp công nghệ tối ưu, đã khắc phục được những nhược điểm của hệ thống sấy hồng ngoại DS.IR-01 và DS.RI-02 cũng như các hệ thống sấy đối lưu thông thường khác. TS.Nguyễn Tấn Dũng (ĐT: ) nói: Chúng tôi mong muốn rằng hệ thống sấy hồng ngoại thông minh DS.IR-03 sớm được triển khai ứng dụng vào sản xuất tại các nhà máy, các doanh nghiệp chế biến thực phẩm. Giá thành một hệ thống máy chỉ bằng khoảng từ 1/3-1/2 so với ngoại nhập cùng một năng suất, bảo hành 2 năm. Trong khí đó, hệ thống máy ngoại nhập bảo hành 1 năm, không có tính năng điều khiển cường độ bức xạ, không điều khiển tốc độ tác nhân sấy. Nguồn: Anh Thư, khoahocphothong.com.vn, 17/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

14 ************* VẬT LIỆU HÓA CHẤT Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nền cấu trúc sợi nano Vật liệu nền cấu trúc nano do nhóm nghiên cứu tại trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TPHCM tổng hợp được gọi là Ti 0.7 W , Ti 0.7 Ir Nhóm nghiên cứu Công nghệ nano và năng lượng tái tạo thuộc trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TPHCM đã tổng hợp được vật liệu nền cấu trúc nano thay thế vật liệu nền carbon đen Vulcan XC-72 được sử dụng phổ biến trong pin nhiên liệu nhằm tăng tuổi thọ và hiệu suất sử dụng của pin. Pin nhiên liệu (Fuel Cell) là loại pin không cần sạc sau mỗi lần sử dụng, có mức thải ô nhiễm gần như bằng 0 và có thể sử dụng không ngừng miễn là pin được tiếp nhiên liệu (Hidro/methanol và oxi) liên tục. Hiện nay, pin nhiên liệu đã được ứng dụng trong các lĩnh vực như sản xuất ô-tô, các thiết bị điện tử cầm tay để tạo ra các thiết bị thân thiện với môi trường. Thông thường người ta vẫn sử dụng chất xúc tác để tăng tốc độ phản ứng điện cực, trong đó chất xúc tác hiệu quả nhất cho các phản ứng là Platinum hoặc hợp kim của Platinum với các kim loại khác. Nhược điểm của loại xúc tác này là giá thành cao và khả năng phân bố hạt kém, nên cần có các vật liệu nền cho hạt Platiunum bám vào để tăng diện tích tiếp xúc, thúc đẩy phản ứng điện hóa xảy ra tốt hơn ở hai cực. Hiện nay, carbon là vật liệu nền được sử dụng rộng rãi do chúng có hạt xúc tác nhỏ và tương đối đồng đều, độ dẫn điện cao, ổn định hóa học tốt, giá thành rẻ, nhưng cũng có một số hạn chế nhất định như độ bền kém trong môi trường điện hóa và môi trường axit, lực tương tác rất yếu giữa carbon và kim loại Platinum dẫn tới vật liệu xúc tác Platinum bị hòa tan, phân tách và kết tụ làm giảm hiệu suất và tuổi thọ của pin khi hoạt động lâu dài. Việc tìm kiếm và phát triển vật liệu nền nhằm thay thế carbon vẫn là thách thức với các nhà nghiên cứu thế giới. Ở Việt Nam, một nhóm nghiên cứu cũng cố gắng đi theo hướng tiếp cận này. Mục tiêu của chúng tôi là tìm kiếm một loại vật liệu mới bền hơn với môi trường điện hóa của pin và có thể cải thiện hoạt tính xúc tác của Platinum tốt hơn, trong khi cố gắng đáp ứng được những ưu điểm tương đương với carbon, PGS. TS Hồ Thị Thanh Vân, trưởng nhóm nghiên cứu Công nghệ nano và năng lượng tái tạo của ĐH Tài Nguyên và Môi trường TP. HCM, cho biết. Các kết quả thử nghiệm của nhóm cho thấy Platinum xúc tác phủ trên vật liệu nền nano Ti 0.7 W có độ bền cao hơn đáng kể so với vật liệu xúc tác Platinum/Carbon đang được thương mại. Thử nghiệm sử dụng phương pháp quét thế tuần hoàn (tuần hoàn điện thế của một điện cực làm việc và đo kết quả dòng điện) cho thấy trong 2000 vòng quét thế tuần hoàn, hoạt tính xúc tác của vật liệu xúc tác Pt/Ti 0.7 W 0.3 O 2 trong pin nhiên liệu chỉ giảm khoảng 19%, thấp hơn gần 2 lần so với vật liệu nền carbon đen (khoảng 35%). Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng tìm ra cơ chế Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

15 chuyển điện tử từ vật liệu nền nano sang kim loại xúc tác Platinum dẫn tới lực tương tác mạnh giữa vật liệu và chất xúc tác. Để tạo ra vật liệu nano này, họ dùng phương pháp thủy nhiệt - biến tính TiO 2 (oxit titan) bằng Vonfram, phản ứng được tiến hành ở nhiệt độ thấp (200 độ C) không sử dụng chất hoạt động bề mặt, chất ổn định và xử lý nhiệt sau phản ứng.theo công bố nghiên cứu của nhóm trên tạp chí International Journal of Hydrogen Energy tháng 10/2018, Ti 0.7 W 0.3 O 2 có độ dẫn điện cao và kích thước hạt nhỏ (xấp xỉ 9 nm), diện tích bề mặt riêng lớn gần bằng với diện tích bề mặt riêng của vật liệu nền carbon đen (hiện được sử dụng rộng rãi trong pin nhiên liệu ~230 m 2 /g), giúp tăng khả năng phân tán kim loại xúc tác Pt (hoạt tính xúc tác) từ đó giảm lượng kim loại quý Platinum sử dụng trong pin nhiên liệu. Nhóm nghiên cứu Công nghệ nano và năng lượng tái tạo được thành lập năm 2014 với 6 thành viên chính từ hai trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP HCM và Đại học Bách khoa, ĐHQGHCM. Nghiên cứu về pin nhiên liệu là lĩnh vực mới ở Việt Nam nên trong giai đoạn đầu mới thành lập, nhóm cũng gặp khá nhiều khó khăn trong việc triển khai các ý tưởng của mình. Ví dụ vấn đề mấu chốt là tìm loại vật liệu thích hợp trong khi mỗi chất có tỷ lệ, quy trình, cách thức tổng hợp khác nhau nên khi bắt đầu, nhóm đã phải thử và sai hàng trăm lần trước khi tìm được công thức phù hợp. Anh Hậu chia sẻ, có những lúc 2-3 tháng trời liên tiếp lên phòng thí nghiệm từ 7h sáng đến 8h tối nhưng hầu như không có kết quả như mong muốn. Chi phí bỏ ra cho những thí nghiệm không hề rẻ khi sử dụng muối kim loại H 2 PtCl 6 để chế hạt nano. Có những ngày gắn hoài không được, nhóm đã phải tốn cả vài triệu một lần như thế, anh Hậu cho biết. Tuy nhiên, cả nhóm đều động viên nhau thúc lại tinh thần để đi tiếp. Mặc dù các thành viên ở hai trường đại học khác nhau, nhưng mọi người vẫn thường xuyên gặp mặt và lên phòng thí nghiệm ít nhất 3 lần/tuần, ai có ý tưởng thì đều chia sẻ ra để làm thử. Những nghiên cứu về pin nhiên liệu của nhóm đã trải qua nhiều năm phát triển, bắt đầu bằng nguồn kinh phí đề tài NAFOSTED năm 2014 và đề tài cấp Sở KH&CN TP.HCM năm Việc tiếp cận nguồn lực cho nghiên cứu trên khá thuận lợi, nhóm nghiên cứu cho biết họ đã tìm kiếm thông tin trên website NAFOSTED về thời gian và cách thức đăng ký rồi tự tin nộp vào vì hướng nghiên cứu rất mới. Đến nay nhóm đã dần phát triển, đạt được những kết quả nhất định trong việc khẳng định vị thế nghiên cứu của mình. Riêng trong năm đã công bố 10 bài báo quốc tế, trong đó có 4 công trình trên tạp chí ISI uy tín (nhóm Q1) về năng lượng và kỹ thuật hóa học. Tháng 5/2019 vừa qua, đề tài Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nền cấu trúc nano Ti 0.7 W 0.3 O 2 cho xúc tác platinum ứng dụng trong pin nhiên liệu do nghiên cứu sinh Phạm Quốc Hậu làm chủ nhiệm đã được Trung tâm Phát triển khoa học và công nghệ trẻ, Thành đoàn TPHCM nghiệm thu (với 3 bài báo quốc tế). Trước đó, năm 2018, nghiên cứu sinh Huỳnh Thiên Tài, thành viên nhóm nghiên cứu, cũng nghiệm thu đạt loại xuất sắc đề tài Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano mới Irdoped TiO 2 làm chất nền cho xúc tác Platin (Pt) ứng dụng trong pin nhiên liệu (với 3 bài báo quốc tế). Với những kết quả sơ bộ của hướng nghiên cứu vật liệu mới này, họ cũng được mời báo cáo tại Hội nghị quốc tế về An toàn năng lượng và Kỹ thuật hóa học (ESCHE 2019) tại Malaixia được tổ chức vào tháng 7/2019 tới. Nguồn: NASATI, vista.gov.vn, 21/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

16 Công nghệ chế tạo bột thạch anh từ nguồn nguyên liệu trong nước Đoàn công tác thăm quan nhà máy sản xuất các vật liệu từ đá thạch anh tại Bắc Kạn. Nhóm hợp tác Hương Trà (gồm 5 thành viên: Công ty CP Hương Trà, thành viên đứng đầu Nhóm; Viện Nghiên cứu Ứng dụng Nha Trang; Trường Đại học Nha Trang; Công ty CP Á Châu; Công ty TNHH Tự động hóa MENT) đã làm chủ công nghệ chế tạo bột thạch anh từ nguồn nguyên liệu khoáng thạch anh trong nước bao gồm các quy trình công nghệ sản xuất thử nghiệm, sản xuất thô và sản phẩm tinh. Đó là những kết quả chính của tiểu dự án Hoàn thiện quy trình công nghệ, dây chuyền thiết bị sản xuất, chế biến sản phẩm thạch anh dạng tinh thể chất lượng tối ưu dùng cho ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ vật liệu mới, từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại Việt Nam. Tiểu dự án được triển khai với sự đầu tư của Dự án Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo thông qua nghiên cứu, khoa học và công nghệ - FIRST (Dự án FIRST). Mới đây, tại Bắc Kạn, đoàn giám sát, đánh giá kiểm tra của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam và Ban Quản lý Dự án FIRST, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã làm việc với Nhóm hợp tác Hương Trà. Tham dự đoàn công tác về phía World Bank có ông Dilip Parajuli Trưởng nhóm phụ trách Dự án FIRST và một số chuyên gia cao cấp. Về phía Dự án FIRST, có ông Trần Quốc Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ KH-CN, Trưởng Ban Giám sát và đánh giá. Theo Giám đốc Công ty Cổ phần Hương Trà Hồ Viết Cầm, dự án được triển khai từ tháng , đến nay đã hoàn thành các mục tiêu đặt ra. Nhóm hợp tác đã làm chủ công nghệ chế tạo bột thạch anh từ nguồn nguyên liệu khoáng thạch anh trong nước bao gồm các quy trình công nghệ sản xuất thử nghiệm, sản xuất thô và sản phẩm tinh. Đồng thời, thiết kế và cải tiến, chế tạo được hệ thống dây chuyền thiết bị sản xuất, chế biến sản phẩm bột thạch anh có hàm lượng SiO 2 lớn hơn hoặc bằng 99.25% với tổng công suất thiết kế tấn/năm; thiết kế hệ thống cảnh báo và giám sát online các chỉ số môi trường (bụi, nước); Sản xuất thử nghiệm sản phẩm lô số 0: tấn sản phẩm/6 dòng modun bột thạch anh đạt tiêu chuẩn ứng dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, vật liệu xây dựng, lọc hóa dầu, gạch men, gốm sứ, đá ốp lát nhân tạo gốc thạch anh cao cấp, vật liệu trang trí nội ngoại thất. Ông Hồ Viết Cầm - Giám đốc Công ty Cổ phần Hương Trà giới thiệu các sản phẩm của Nhóm hợp tác với ông Dilip Parajuli World Bank. Ông Phạm Văn Diễn, cán bộ phụ trách Tiểu hợp phần 2b cho biết, với sự đầu tư của Bộ KH-CN và World Bank, hiện Nhóm hợp tác đã xây dựng được 2 nhà máy sản xuất các Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

17 vật liệu từ đá thạch anh - một nguyên liệu rất quan trọng, trong sản xuất vật liệu xây dựng và trong lĩnh vực công nghiệp điện tử. Nhóm hợp tác đã rất thành công trong việc thay vì sử dụng hóa chất và các công nghệ khác, Nhóm đã sử dụng công nghệ vi sinh để làm sạch các chất bám trên tinh thể thạch anh, và đưa ra được 6 loại sản phẩm, đạt được các chỉ tiêu về công nghệ tương đương như quặng nhập khẩu của các nước trên thế giới. Đánh giá cao kết quả của Nhóm hợp tác, Trưởng Ban Giám sát và đánh giá Trần Quốc Thắng cho rằng, phần lớn các gói thầu được triển khai theo đúng quy trình và tiến độ đã cam kết. Thành công bước đầu của tiểu Dự án đã khẳng định năng lực tổ chức, thực hiện, làm chủ các quy trình công nghệ, góp phần rất quan trọng trong việc tạo ra các nguyên liệu có chất lượng tương đương và thay thế nguyên liệu nhập khẩu. Mở khóa tiềm năng vật liệu 2D Đại điện World Bank, ông Dilip Parajuli đã ghi nhận những thành quả Nhóm hợp tác Hương Trà đạt được. Đồng thời cho rằng, đây là minh chứng quan trọng cho hiệu quả của mối liên kết nghiên cứu, triển khai, sản xuất giữa Nhà nước Viện nghiên cứu Trường đại học và Doanh nghiệp. Mô hình này rất cần thiết để nhân rộng. Tại buổi làm việc, các cán bộ của World Bank và Dự án FIRST đã có những trao đổi, hướng dẫn để Nhóm hợp tác triển khai các công việc tiếp theo và hoàn thiện các thủ tục theo yêu cầu. Đồng thời, gợi mở các hướng giải pháp tiếp theo để Nhóm hợp tác Hương Trà có thể thương mại hóa sản phẩm, đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, ứng dụng hiệu quả vào sản xuất, đời sống. Nguồn: Hạnh Nguyên, daibieunhandan.vn, 06/06/2019 Tiến sỹ Nguyễn Trọng Hiếu Một nhóm nghiên cứu của Đại học quốc gia Australia do TS. người Việt Nguyễn Trọng Hiếu đứng đầu đã khám phá tiềm năng tối đa của vật liệu 2D siêu mỏng, đó là chúng có thể tạo ra điện bằng ánh sáng mặt trời. TS. Nguyễn Trọng Hiếu cho biết, vật liệu 2D mỏng hơn hàng trăm nghìn lần so với sợi tóc người và bằng mắt thường chúng ta sẽ hầu như không nhìn thấy chúng. Loại vật liệu này trong tương lai có thể cách mạng hóa công nghệ dùng cho pin mặt trời, điện thoại di động và thiết bị cảm biến. Trước đó, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu các vật liệu mỏng đơn nguyên tử này nhưng chưa định lượng được tiềm năng của chúng cho các ứng dụng như pin mặt trời và cảm biến ánh sáng. Nhóm nghiên cứu của ông Nguyễn Trọng Hiếu đã sử dụng một phương pháp sáng tạo để tính toán điện áp tối đa mà loại vật liệu này có thể tạo ra được thông qua hấp thụ ánh sáng. Cụ thể, họ sử dụng băng dính để bóc từng lớp vật liệu cho đến khi chỉ còn một lớp màng mỏng đơn nguyên tử duy nhất, sau đó tiến hành nghiên cứu ánh sáng phát ra từ lớp màng này bằng kính hiển vi quang học được hỗ trợ bởi máy ảnh và cảm biến nhạy. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

18 Bằng cách trên, các nhà nghiên cứu của Đại học quốc gia Australia đã tính toán được hiệu suất tiềm năng của vật liệu 2D dựa trên tính chất của ánh sáng được phát hiện. Kết quả cho thấy vật liệu này có thể cung cấp điện áp lớn hơn 1V, tương tự như các công nghệ năng lượng mặt trời hiện có. Theo TS. Hiếu, phát hiện của nhóm nghiên cứu rất quan trọng vì nó là cơ sở để các nhà khoa học hướng tới mục tiêu tính toán sản lượng điện có thể tạo ra từ những màng vật liệu siêu mỏng này. Các nhà khoa học hy vọng trong tương lai, màng vật liệu 2D có thể được dùng để phủ trên cửa sổ xe ô tô, màn hình điện thoại di động hoặc thậm chí là đồng hồ đeo tay để hấp thụ ánh sáng mặt trời và giúp cung cấp năng lượng cho các thiết bị này. Nguồn: BT, baochinhphu.vn, 28/05/2019 Nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng xúc tác quang hóa BiVO 4 trong phân hủy hợp chất hữu cơ độc hại sử dụng ánh sáng nhìn thấy Đề tài do tác giả Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự (Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ) thực hiện nhằm tổng hợp thành công và xác định được tính chất đặc trưng của vật liệu xúc tác quang hóa BiVO 4 (Bismuth vanadate) sử dụng ethylene glycol (EG) làm dung môi và ứng dụng hiệu quả trong phân hủy hợp chất hữu cơ độc hại sử dụng ánh sáng nhìn thấy. Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường nước gây ra bởi các chất thải màu hữu cơ độc hại trong các nghành công nghiệp sơn và dệt nhuộm rất lớn. Để hạn chế phát thải chất màu hữu cơ độc hại gây ô nhiễm môi trường trong các nghành công nghiệp này, đã có nhiều biện pháp xử lý nước thải màu được đưa ra như phương pháp hóa lý, phương pháp sinh học và phương pháp hóa học. Trong đó phương pháp hóa học theo hướng oxy hóa hóa học sử dụng các chất bán dẫn có hoạt tính xúc tác quang để phân hủy chất màu hữu cơ mang lại hiệu quả cao, do phương pháp này phân hủy chất màu hữu cơ độc hại thành sản phẩm cuối cùng là CO 2 và nước. Nhiều chất bán dẫn có hoạt tính xúc tác quang đã được nghiên cứu và ứng dụng vào quá trình này, trong đó TiO 2 được nghiên cứu và sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, yếu điểm của loại vật liệu này là sử dụng tia UV trong quá trình phản ứng. Tia UV nguy hiểm khi tiếp xúc trực tiếp với con người và chỉ chiếm 5% trong ánh sáng mặt trời. Gần đây, một loại xúc tác mới đang dành nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đó là BiVO 4, vật liệu này có thể sử dụng ánh sáng nhìn thấy trong quá trình quang xúc tác, có độ bền hóa học và hoạt tính quang hóa tương đối cao. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đề xuất một phương pháp tổng hợp mới trên cơ sở phương pháp dung nhiệt cho việc kiểm soát quá trình tổng hợp BiVO 4. Các dung môi như EG và glycerol (GL) có nhiệt độ sôi, độ nhớt, độ phân cực và áp suất hơi bão hòa khác nhau được lựa chọn để tổng hợp BiVO 4 với mục đích điều khiển cấu trúc và kích thước tinh thể BiVO 4 từ đó nâng cao hoạt tính quang hóa của BiVO 4. Kết quả đã tổng hợp thành công BiVO 4 bằng phương pháp dung nhiệt sử dụng EG làm dung môi và phương pháp thủy nhiệt. Cấu trúc vật liệu được đánh giá bằng Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

19 các phương pháp hóa lý hiện đại như XRD (nhiễu xạ tia X), IR (phổ hồng ngoại), SEM (kính hiển vi điện tử quét) và Raman. Theo đó, dung môi có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình hình thành pha và hình thái tinh thể BiVO 4. EG có khả năng tạo liên kết phối trí với nguyên tử Bi 3+, do đó, EG sẽ bao quanh nguyên tử Bi 3+ với lực kìm tương đối lớn ngăn các phân tử nước tiếp xúc với nguyên tử Bi 3+ ngay cả trong điều kiện dụng nhiệt dẫn đến đơn pha tinh thể monoclinic được hình thành. Khả năng hấp thụ ánh sáng ở vùng bước sóng ngắn (UV) và vùng bước sóng dài (vùng ánh sáng khả kiến) của BiVO 4 được nghiên cứu thông qua phương pháp UV-Vis (tử ngoại khả kiến) pha rắn. Tất cả các mẫu BiVO 4 cho dãy hấp thu mạnh trong vùng ánh sáng khả kiến do đó tính chất quang xúc tác của vật liệu sẽ được tăng cường trong vùng ánh sáng khả kiến. Nhóm nghiên cứu đánh giá khả năng xúc tác quang hóa của các mẫu vật liệu BiVO 4 phản ứng phân hủy RhB (Rhodamine B) sử dụng nguồn đèn ánh sáng nhìn thấy. Kết quả cho thấy mẫu BiVO 4 tổng hợp bằng phương pháp dung môi cho hoạt tính cao hơn CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM Trà thảo dược từ lá xoài và dó bầu mẫu tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt. Hằng số tốc độ quang phân hủy (k) RhB trên các mẫu xúc tác được xác định từ mô hình động học phản ứng giả bậc 1: ln(c o /C) = kt. Giá trị k của mẫu BiVO 4 được tổng hợp trong EG là 7,8x10-3 phút -1, cao hơn so với BiVO 4 được tổng hợp trong dung môi H 2 O. Đồng thời, hoạt tính quang hóa có sự tương quang với sự hình thành các gốc tự do OH *. Quá trình xúc tác quang hóa hình thành nhiều OH * tức là có hoạt tính quang hóa càng cao. Mẫu BiVO 4 tổng hợp bằng phương pháp dung nhiệt có hoạt tính quang hóa cao hơn mẫu tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt do có sự hình thành nhiều OH *. Đề tài cũng xác định được quy trình tổng hợp BiVO 4 bằng phương pháp dung nhiệt tạo thành vật liệu với đơn pha tinh thể monoclinic và hoạt tính quang xúc tác cao nhất và quy trình đánh giá hoạt tính quang xúc tác phân hủy chất màu hữu cơ độc hại. Kết quả này mở ra khả năng ứng dụng rộng rãi vật liệu BiVO 4, đặc biệt ứng dụng làm xúc tác xử lý môi trường. Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 17/06/2019 Các thành phần thảo dược tạo nên trà Đông Trầm Nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và triển khai, Khu Công nghệ cao TPHCM (SHTP Labs) đã nghiên cứu, sản xuất thành công sản phẩm trà thảo dược Đông Trầm từ lá xoài, dó bầu, cỏ ngọt và đông trùng hạ thảo. Sản phẩm là kết quả của hai đề tài nghiên cứu chế tạo nano mangiferin ứng dụng trong thực phẩm chức năng và điều chế trà dó bầu hòa tan. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

20 Tại lễ ra mắt sản phẩm Trà thảo dược hòa tan Đông Trầm do SHTP Labs tổ chức ngày 14/6 tại TPHCM, ông Mai Ngọc Tuấn Anh, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, mangiferin là một hợp chất hữu cơ chiếm hàm lượng từ 1 2% trong lá xoài hoặc lá dó bầu. Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, mangiferin có tác dụng kháng ung thư, kháng khuẩn và vi rút, kháng viêm, đặc biệt là kháng oxi hóa. Ngoài ra, mangiferin còn có tác dụng giảm đau, chống dị ứng, điều trị tiểu đường, ngăn ngừa lão hóa, chống béo phì, hỗ trợ tim mạch, Cây dó bầu là loại cây có khả năng hình thành ở phần lõi của thân một sản phẩm quý là Trầm hương và Kỳ nam có giá trị kinh tế rất cao. Trà dó bầu có tác dụng giảm: cholesterol, axít uric, đường trong máu, cải thiện làn da, chống lão hóa, cho giấc ngủ sâu, phòng chống ung thư. Nhận thấy những tác dụng to lớn của các hoạt chất có trong các loại thảo dược trên, chúng tôi đã nghiên cứu để phát triển thành một loại trà có nhiều tác dụng bảo vệ sức khỏe con người ông Tuấn Anh chia sẻ. Theo ông Tuấn Anh, mangiferin có nhiều ưu điểm nhưng lại kém tan trong nước nên khả năng hấp thu hoạt chất thấp khi được sử dụng. Chính vì vậy, nhóm đã nghiên cứu và chế tạo bột nano mangiferin bằng phương pháp nghiền quay, có cấu trúc tinh thể, kích thước 200nm nên khắc phục được những nhược điểm trên. Để tăng tính hiệu quả của trà và sử dụng được cho người ăn kiêng, nên ngoài cao chiết lá dó bầu, mangiferin từ lá xoài, trà được bổ sung thêm đông trùng hạ thảo, đường cỏ ngọt và các tá dược vừa đủ. Điểm khác biệt lớn nhất của trà Đông Trầm so với các sản phẩm khác là sử dụng mangiferin dạng bột với hàm lượng từ 8 12mg/gói 3g, nguyên liệu được dùng hoàn toàn từ thảo dược trong nước và do chính những nhà nghiên cứu Việt tạo ra, làm tăng giá trị sản phẩm bằng KH&CN ông Tuấn Anh nói và cho biết thêm, sau khi hoàn thiện quá trình nghiên cứu, thực hiện đầy đủ các kiểm nghiệm và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, SHTP Labs đã phối hợp cùng Công ty cổ phần Dược Phẩm Nutifine và Công ty TNHH Mediworld triển khai sản phẩm thương mại hóa ra thị trường. Sản phẩm Đông Trầm là sự đột phá trong nghiên cứu thảo dược của các nhà khoa học, đồng thời thể hiện sự hợp tác giữa đơn vị nghiên cứu với các doanh nghiệp, để đưa kết quả nghiên cứu đến sản xuất và thương mại hóa sản phẩm ông Ngô Võ Kế Thành, Giám đốc SHTP Labs chia sẻ và cho biết, SHTP Labs đóng vai trò là đơn vị chủ đạo trong việc tiếp nhận các yêu cầu nghiên cứu, phát triển và chuyển giao quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm cho các doanh nghiệp sản xuất. Bên cạnh đó, SHTP Labs còn hỗ trợ doanh nghiệp trong việc truyền thông và đưa thông tin sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Nguồn: Kiều Anh, khoahocphattrien.vn, 14/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

21 CÔNG NGHỆ SINH HỌC Phát hiện một giống loài ve sầu mới tại Việt Nam Theo PGS.TS. Phạm Hồng Thái, Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, các nhà khoa học Việt Nam và Vương quốc Bỉ vừa công bố một giống loài ve sầu mới thuộc phân tộc Dundubiina Atkinson, 1886, tộc Dundubiini Atkinson, 1886, phân họ Cicadinae Latreille, 1802, họ ve sầu Cicadidae Latreille, 1802, phân bộ Auchenorrhyncha, bộ Hemiptera Linnaeus, Giống mới này được đặt tên tiếng Latinh đặc điểm hình thái của opercula là: Cochleopsaltria Pham & Constant, Loài mới được đặt tên theo tên của nhà hệ thống và phân loại học ve sầu nổi tiếng TS. Hans Duffels: Cochleopsaltria duffelsi. Giống Cochleopsaltria khác với tất cả các giống thuộc phân tộc Dundubiina, trừ giống Dundubia Amyot & Audinet - Serville, 1843, Macrosemia Kato, 1925, Orientopsaltria Kato, 1944, và Platylomia Stål, 1870, bởi hình thái của opercula con đực rất phát triển và mở rộng tới mép sau của sternite thứ IV. Giống mới này khác với giống Dundubia bởi các đặc điểm trên cánh trước và kích thước của pronotum và mesonotum. Giống Cochleopsaltria phân biệt với giống Macrosemia bởi chiều rộng của đầu và mesonotum. Cochleopsaltria khác với giống Platylomia bởi chiều dài bụng so với chiều dài từ đầu đến cruciform elevation, ngoài ra 2 giống này còn khác nhau ở hình dạng của operculum. Loài Cochleopsaltria duffelsi có chiều dài cơ thể 35,9 mm; cánh trước dài 42,8 mm, rộng 13 mm. chiều rộng của đầu: 12,1 mm; chiều rộng của pronotum: 12,6 mm; chiều rộng của mesonotum: 10,6 mm. Mẫu vật nghiên cứu của loài Cochleopsaltria duffelsi Pham & Constant, 2017 được thu tại thôn Hòa Bình 2, xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Mẫu chuẩn (holotype) được lưu giữ tại Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam. Nguồn: T.L, khoahocphothong.com.vn, 17/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

22 Tìm ra chất ức chế cỏ dại xâm lấn từ vỏ trấu Cây cỏ lồng vực nước. Cây cỏ lồng vực nước và cây goldenrod từng gây hại trên các đồng lúa khắp thế giới bị ức chế bởi bốn hợp chất từ trấu gạo. Lần đầu tiên một nghiên cứu của các nhà khoa học người Việt đã tìm ra bốn hoạt chất có khả năng ức chế thực vật xâm lấn từ vỏ trấu gồm Momilactone A,B,E (MA,MB,ME) và 7- ketostigmasterol (7KS). Nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế Plants của MDPI ngày 7/6. Ức chế cỏ dại là khả năng mới của hợp chất MA, MB ngoài tính năng ức chế bệnh tiểu đường, béo phì, và gút đã được nhóm nghiên cứu công bố trước đó. Chất 7KS còn có tác dụng bảo vệ tế bào đường ruột (Caco-2) và hệ miễn dịch. PGS Trần Đăng Xuân, Trưởng phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật và Hóa sinh (Đại học Hiroshima, Nhật Bản) - đại diện nhóm nghiên cứu cho biết, cả bốn chất trong vỏ trấu được phân lập và chiết xuất bằng phương pháp sắc khí cột. Sau đó xác định cấu trúc của các hợp chất bằng kỹ thuật quang phổ. Sau khi xác định được tỷ lệ bốn hợp chất trong trấu, nhóm nghiên cứu tiếp tục kiểm tra khả năng ức chế của chúng đối với loại cỏ gây hại chính trong ruộng lúa nước trên khắp thế giới là lồng vực nước (Echinochloa crus-galli) và loại cây xâm hại goldenrod (Solidago altissima). Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện thí nghiệm để so sánh hoạt tính ức chế sinh trưởng của bốn hợp chất cho thấy, MA và MB có hoạt tính mạnh hơn ME và 7KS. Cỏ lồng vực và cây goldenrod là một trong nhiều loại thực vật gây hại và xâm lấn ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành sản xuất lúa cũng như đe dọa đến môi trường. Các nhà khoa học dự kiến sẽ tập trung nghiên cứu cơ chế ức chế cỏ dại và thực vật xâm lấn của MA, MB, ME và 7KS nhằm phát triển các loại thuốc diệt cỏ mới an toàn hơn và bảo vệ môi trường. Độc giả quan tâm có thể tìm hiểu nghiên cứu tại đây. Nguồn: Nguyễn Xuân, vnexpress.net, 10/06/2019 Việt Nam có kết quả bước đầu về văcxin chống dịch tả heo châu Phi Người dân rắc vôi bột để sát trùng chuồng heo GS.TS Nguyễn Thị Lan, giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cho biết học viện đang thực hiện 7 đề tài nghiên cứu do Bộ NN&PTNT giao, ngoài ra còn có 7 đề tài nghiên cứu khác do học viện chủ động thực hiện. Sau thời gian nghiên cứu, đến nay học viện đã có sản phẩm văcxin dịch tả heo châu Phi vô hoạt thế hệ mới, tiến hành tiêm thử Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

23 nghiệm tại 3 trại heo bị dịch tả châu Phi thuộc 3 hộ gia đình tại vùng dịch của Hưng Yên. Kết quả cho thấy toàn bộ 16/18 heo nái và 15 heo thịt của 3 hộ gia đình này đều sống khỏe sau hơn 2 tháng, một số heo nái đã đẻ và heo con khỏe mạnh. Trong khi những con heo không được tiêm văcxin đều chết do dịch tả châu Phi. "Kết quả kiểm tra cho thấy văcxin an toàn đối với heo được tiêm phòng và có hiệu quả bảo hộ cao đối với đàn heo được tiêm phòng" - bà Lan thông tin Đây là những thông tin rất khả quan, mở ra nhiều hi vọng trong thời gian tới cho việc nghiên cứu văcxin dịch tả heo châu Phi. Phát biểu tại cuộc họp về kết quả bước đầu, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết từ khi dịch tả heo châu Phi xảy ra đầu tiên từ ngày 1-2 tại Hưng Yên, đến nay đã tròn 5 tháng. 2,8 triệu con heo đã phải tiêu hủy (chiếm 10% tổng đàn heo cả nước), tương đương tấn. Về cơ bản, hiện nay dịch vẫn chủ yếu xảy ra ở khu vực chăn nuôi nhỏ lẻ, đã được khống chế thiệt hại ở mức thấp nhất có thể. Tuy nhiên nguy cơ dịch chưa dừng lại vẫn đe dọa tới ngành chăn nuôi. Theo Bộ trưởng Cường, có ý kiến cho rằng việc nghiên cứu văcxin dịch tả heo châu Phi sẽ khó khả thi, tuy nhiên đây là hướng đi cần thiết, mang tính bền vững, lâu dài. Đến nay, trong thời gian ngắn đã thu được những kết quả tích cực bước đầu, làm tiền đề cho nghiên cứu sâu về văcxin dịch tả heo châu Phi cũng như đã có những chế phẩm tăng cường hệ miễn dịch, ức chế virút dịch tả heo châu Phi. "Theo đó, các nhóm nghiên cứu đã đưa ra được kết quả nhất định, phân lập được virút làm tiền đề cho nghiên cứu sản xuất văcxin trong thời gian tới. Chính vì thế, Bộ NN&PTNT tổ chức cuộc họp này nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất khống chế dịch bệnh này" - Bộ trưởng nói. Đại diện Công ty Navetco cho biết hiện đơn vị cũng đang nghiên cứu nhiều nhóm giải pháp khác nhau, thử nghiệm trên đàn heo bước đầu cho thấy những kết quả rất triển vọng và khoảng 1 tháng nữa sẽ có kết quả cụ thể hơn. Về hướng vắcxin dịch tả heo châu Phi trong thời gian tới, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường yêu cầu các đơn vị liên quan cố gắng đẩy nhanh nhất tiến độ. Trong đó, lưu ý việc từ nghiên cứu thử nghiệm đến thương mại là một chặng đường dài, thực tế thế giới chưa sản xuất được văcxin dịch tả heo châu Phi bởi đây là điều không hề dễ dàng. Nguồn: Chí Tuệ, tuoitre.vn, 02/07/2019 Nghiên cứu quy trình tinh sạch exopolysaccharide từ môi trường nuôi cấy Ophiocordyceps sinensis bổ sung dầu ô liu và khảo sát hoạt tính sinh học của chúng Đề tài do tác giả Lê Thị Thúy Hằng và cộng sự (Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ) thực hiện nhằm xây dựng quy trình tách chiết thích hợp cho exopolysaccharide (EPS) từ môi trường nuôi cấy có bổ sung dầu ô liu và tinh sạch chúng để tăng cường hoạt tính sinh học. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

24 Các nghiên cứu đã chứng minh, EPS thu từ nấm Ophiocordyceps sinensis (tên thường gọi là đông trùng hạ thảo, tên đồng danh là Cordyceps sinensis, một loài nấm dược liệu quý hiếm có giá trị cao trong y học cổ truyền) có hoạt tính điều hòa miễn dịch, kháng khối u, kháng oxy hóa và giảm đường huyết trong máu. Ngoài ra, chúng còn có những tác dụng quan trọng khác như kháng viêm, giảm mệt mỏi, bảo vệ thận và bảo vệ khỏi tia phóng xạ, Do vậy, EPS được xem là nhóm hoạt chất tiềm năng cần được khai thác để tối ưu hóa quy trình sản xuất nấm dược liệu đông trùng hạ thảo, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế. Gần đây, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu làm thế nào để kích thích sinh tổng hợp EPS của nấm O. sinensis. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu tận dụng nguồn dịch môi trường sau nuôi cấy có chứa nguồn EPS với hoạt tính sinh học cao. Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu khảo sát các điều kiện và phương pháp để thu nhận và tinh sạch EPS với hiệu suất cao mà vẫn giữ được đặc tính sinh học của chúng. Đồng thời cung cấp những thông tin mới về đặc điểm cấu trúc cũng như những dược tính sinh học của hoạt chất EPS, đặc biệt là hoạt tính kháng oxy hóa và khả năng kháng phân bào; góp phần tối ưu hóa quy trình sản xuất nấm đông trùng hạ thảo, từ đó đa dạng hóa các dòng sản phẩm nấm có chất lượng và cạnh tranh cao ở dạng dược phẩm và thực phẩm chức năng trên thị trường Việt Nam hiện nay. Theo đó, nhóm sử dụng thiết kế Plackett-Burman để sàng lọc chín yếu tố ban đầu (15 nghiệm thức), chọn ra được ba yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và tổng hợp EPS ở nấm O. sinensis là dầu ô liu, peptone và saccharose. Kết hợp với phương pháp đáp ứng bề mặt Box-Behnken đưa ra môi trường tối ưu dự đoán nuôi cấy nấm O. sinensis: dịch chiết khoai tây (200g/L), saccharose (48,69g/L), cao nấm men (4g/L), peptone (6,77g/L), dầu ô liu (5,27%), KH 2 PO 4 (0,5g/L), K 2 HPO 4 (0,5 g/l), CaCl 2 (0,5 g/l), MgSO 4 (0,2 g/l), ph 6-7. Với hoạt tính bắt gốc tự do ABTS+ của 15 mẫu EPS: 2 mẫu EPS nghiệm thức 7 (IC50 = 2949,88 μg/ml) và 13 (IC50 = 2.304,34 μg/ml) có khả năng bắt gốc tự do cao hơn so với đối chứng (IC50 = 3.067,48 μg/ml). Sử dụng dung môi hữu cơ petroleum ether để loại dầu ra khỏi dịch nuôi cấy nấm O. sinensis bổ sung dầu. Tỷ lệ tủa thu nhận EPS 1:4 giữa dịch nấm và ethanol 960 cho hàm lượng EPS cao nhất (0,0171g/ml). Sử dụng phương pháp enzyme protease 20 UI/ml loại protein ra khỏi EPS thô cho hiệu quả tốt nhất. Qua sắc ký lọc gel Sephadex G 100 đã tách được hai phân đoạn EPS I và EPS II từ EPS thô. EPS II cho thấy khả năng gây độc tế bào ung thư gan Hep-G2 tốt hơn EPS I. Thành phần monosaccharide trong phân đoạn EPS I và EPS II đều chứa glucose, fructose và mannose theo tỷ lệ mol lần lượt là 1:1:1 và 2:1:1. Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 12/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

25 Tạo β - glucosidase siêu chịu nhiệt tái tổ hợp từ cổ khuẩn Pyrococcus furiosus trong Escherichia coli để sản xuất isoflavone từ đậu nành Đề tài do tác giả Đinh Nguyễn Tấn Hòa và cộng sự (Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ) thực hiện nhằm tạo dòng thành công tế bào E. coli sản xuất enzyme β -glucosidase (BGL) từ cổ khuẩn Pyrococcus furiosus dạng tan và có hoạt tính; xác định điều kiện nhiệt độ, ph tối ưu cho hoạt tính của enzyme; thử nghiệm hoạt tính enzyme trên hợp chất isoflavone glucoside từ đậu nành. Đậu nành là một trong những đối tượng nghiên cứu phổ biến nhất vì chứa hàm lượng isoflavone cao, có tác dụng chống oxi hóa, giúp làm đẹp, phòng ngừa và điều trị nhiều loại bệnh. Tuy nhiên, isoflavone tồn tại trong thực vật chủ yếu ở dạng hợp chất glycoside nên bị bất hoạt. Muốn thu nhận được dạng có hoạt tính cần tiến hành loại bỏ gốc đường để giải phóng dạng alygone tương ứng. BGL là enzyme có khả năng phân cắt glucose từ đầu không khử, nhờ đó giải phóng được các hợp chất isoflavone ở dạng có hoạt tính. Biết được điều này, con người đã bổ sung các chủng vi khuẩn có khả năng tạo BGL trong quy trình sản xuất. Tuy nhiên gặp phải nhiều vấn đề như: thời gian lên men lâu dễ gây tạp nhiễm và làm giảm chất lượng thực phẩm; enzyme thu nhận từ các nguồn vi sinh hiện nay thường không chịu được nhiệt độ cao gây nhớt và dễ bị ức chế bởi các thành phần có trong nguyên liệu, đặc biệt là glucose nên chưa được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp. Trong đề tài này, nhóm tác giả nghiên cứu thu nhận enzyme BGL từ cổ khuẩn Pyrococcus furiosus với khả năng chịu nhiệt cao, chịu được nồng độ glucose cao, kháng protease phù hợp với quy trình chế biến và tách chiết phổ thông, mang tiềm năng ứng dụng trong cả nghiên cứu và sản xuất. Theo đó, đề tài đã tạo dòng và biểu hiện thành công enzyme BGL siêu chịu nhiệt tái tổ hợp từ cổ khuẩnpyrococcus furiosus trong E. coli và bước đầu thử nghiệm hoạt tính thành công trên cơ chất đậu nành. Cụ thể, tạo dòng thành công tế bào E. coli DH5α mang vector tái tổ hợp pgex/2tkcelb; tạo dòng thành công tế bào E. coli BL1 mang vector tái tổ hợp pgex/2tk-celb biểu hiện enzyme BGL dạng tan, với hàm lượng chiếm 17,04%. Sau tinh chế đạt 57.5%. Tối ưu hóa điều kiện cho hoạt tính trên cơ chất pnpg (p-nitrophenyl β-dglucopyranoside), C tại ph 5.0, hoạt tính riêng của enzyme đạt U/mg. Xây dựng phương trình động học enzyme, xác định các giá trị V max, K m và K cat lần lượt là U.mg -1.min -1, mm, và s -1. Bước đầu thử nghiệm hoạt tính trên cơ chất đậu nành cho thấy enzyme BGLPf (Pyrococcus furiosus β-glucosidase) có khả năng phân cắt các isoflavone glucoside như daidzin, genistin để giải phóng dạng aglycone tương ứng. Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 15/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

26 Y HỌC Ứng dụng WebGIS quản lý bệnh truyền nhiễm Đây là thành quả của công trình nghiên cứu thuộc nhóm tác giả Nguyễn Trí Dũng, Lê Hồng Nga, Nguyễn Đình Dũng, Nguyễn Đình Dũng, Lê Thị Ánh Tuyết (Trung tâm y tế dự phòng - Sở y tế TP.HCM); Khưu Minh Cảnh, Trương Thanh Tùng, Lâm Quang Hà (Trung tâm ứng dụng hệ thống thông tin địa lý - HCMGIS, Sở khoa học và công nghệ TP.HCM). Công trình đoạt giải 3 Giải thưởng sáng tạo TP.HCM năm 2019 lĩnh vực 1: kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Với giao diện thân thiện, đơn giản, phù hợp với người dùng cuối (phù hợp với trình độ của tuyến y tế cơ sở), ứng dụng đã giúp cho công tác phòng chống dịch được thống nhất, nhanh chóng, kịp thời và chính xác hơn. Hệ thống gồm có quy trình gửi và phản hồi ca bệnh, quá trình này giúp việc liên thông giữa các cấp trong cùng một phần mềm, giảm thiểu sự chênh lệch số liệu giữa các cấp. Luồng thông tin sẽ được liên tục, kịp thời, thống nhất. Thực hiện thống kê, báo cáo linh động theo không gian và thời gian, tiết kiệm thời gian, chi phí in ấn và giảm thiểu sai sót. Định vị ca bệnh trên bản đồ: tìm kiếm, định vị trên bản đồ số từ nguồn bản đồ địa chính tỷ lệ lớn, đảm bảo độ chính xác, dễ dàng thực hiện các phép phân tích tương quan không gian giữa các ca bệnh, hỗ trợ công tác phân tích dịch tễ. Xác định ổ dịch: dựa vào bản đồ số, chức năng định vị của điện thoại thông minh, đo khoảng cách chính xác, phân tích tương quan không gian giữa các ca bệnh trên bản đồ số, không phụ thuộc vào địa giới hành chính. Theo ông Phạm Đức Thịnh, trưởng phòng tư vấn và dịch vụ HCMGIS, chương trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống thông tin địa lý TP.HCM giai đoạn là sẽ nghiên cứu, triển khai ứng dụng GIS vào công tác quản lý nhà nước tại các sở ngành và quận huyện; chia sẻ, trao đổi và tích hợp dữ liệu GIS từ các đơn vị trên, cũng như bảo đảm các yêu cầu về cơ sở pháp lý, kỹ thuật, công nghệ và hạ tầng cho việc triển khai ứng dụng GIS, tích hợp và chia sẻ dữ liệu. Hệ thống thông tin địa lý GIS (Geographic Information Systems) là một công cụ tập hợp những quy trình dựa trên máy tính để lập bản đồ, lưu trữ và thao tác dữ liệu địa lý, phân tích các sự vật hiện tượng thực, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược. Nói cách khác, GIS là một tập hợp có tổ chức của phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu và con người được thiết kế để thu nhận, lưu trữ, cập nhật, thao tác phân tích làm mô hình và hiển thị tất cả các dạng thông tin địa lý có quan hệ không gian nhằm giải quyết các vấn đề về quản lý và quy hoạch.. Nguồn: Tuyết Mai, khoahocphothong.com.vn, 14/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

27 Nghiên cứu phân lập các hợp chất có khả năng kháng tế bào ung thư từ cam thảo nam Đề tài do tác giả Trần Thị Phương Uyên và cộng sự (Trung tâm Phát triển Khoa học và Công nghệ Trẻ) thực hiện nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc phát triển các chế phẩm có khả năng phòng hoặc điều trị ung thư ứng dụng trên lâm sàng từ một cây thuốc khá quen thuộc và thông dụng ở Việt Nam; từ đó góp phần làm giảm gánh nặng về chi phí y tế nói chung và chi phí điều trị của bệnh nhân ung thư nói riêng. Cam thảo nam (Scoparia dulcis L.) là vị thuốc dân gian đã được sử dụng lâu đời chữa sốt, say nắng, giải độc cơ thể; chữa ho, viêm họng, ban sởi, kinh nguyệt quá nhiều. Ngoài ra, cây còn được dùng làm thuốc giảm đau, điều trị đái tháo đường, rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp, bệnh trĩ, các bệnh đường tiết niệu và côn trùng cắn. Cam thảo nam đã được nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, thành phần hóa học trong cam thảo nam có tiềm năng với tác dụng ức chế tế bào ung thư. Tuy nhiên những nghiên cứu về cam thảo nam ở Việt Nam nói chung và phân lập các hợp chất có khả năng kháng ung thư nói riêng vẫn còn hạn chế. Với đề tài này, nhóm nghiên cứu đã thu thập được 5 kg dược liệu cam thảo nam và kiểm tra nguyên liệu cam thảo nam theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV (độ ẩm 7,9%, độ tro toàn phần 11,4%, độ tro không tan trong HCl 0,72%). Chiết xuất được 5 g cao cồn 96% toàn phần và phân tách được 4 cao phân đoạn: Sco-A (111 g), Sco-B (67 g), Sco-C (52 g) và Sco-D. Phân lập và xác định cấu trúc các chất phân lập được 10 chất tinh khiết từ các phân đoạn Sco-B và Sco-C. Từ phân đoạn cao Sco-B đã thu được 5 hợp chất tinh khiết. Tiến hành biện giải và so sánh với dữ liệu phổ trong các tài liệu tham khảo xác định cấu trúc của các chất là: 2- benzoxazolinon (CT1), Nmethylbenzoxazolinon (CT3), 6-methoxy- 2-benzoxazolinon (CT4), acid betulinic (CT2), và hispidulin (CT5). Từ phân đoạn cao Sco-C đã thu được 5 hợp chất tinh khiết. Tiến hành biện giải và so sánh với dữ liệu phổ trong các tài liệu tham khảo xác định cấu trúc của các chất là: 6- hydroxy benzoxazolinon (CT6), Apigenin (CT7), (2R)-7-methoxy-2H-1,4-benzoxazin- 3(4H)-on 2-O-B-galactopyranosid (CT8), 5- hydroxy-4,6-dimethoxyflavon-7-o-β-dglucopyranosyl-(6 1)-α-Lrhamnopyranosid (CT9), hispidulin-7-o-rutinosid (CT10). Trong đó có hợp chất N- methylbenzoxazolinon (CT3) lần đầu tiên được phân lập trong tự nhiên. Khảo sát hoạt tính độc tế bào ung thư trên các dòng tế bào ung thư, kết quả cho thấy, trên dòng tế bào ung thư vú người (MDA-MB-231), CT5 có tác dụng trên dòng tế bào ung thư vú với IC 50 (nồng độ ức chế 50% đối tượng thử nghiệm) = 86,6 μm, CT7 có tác dụng trên dòng tế bào ung thư vú với IC 50 = 13,4 μm, acid betulinic (CT2) có tác dụng trên dòng tế bào ung thư vú với IC 50 là 17,6 μm. Trên dòng tế bào ung thư cơ vân người (RD), CT3 ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư cơ vân người với IC 50 = 67,0 μm, CT7 ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư cơ vân người với IC 50 = 42,5 μm, acid betulinic (CT2) có tác dụng trên dòng tế bào ung thư cơ vân với IC 50 là 2,94 μm. Trên dòng tế bào bình thường (tế bào biểu mô thận Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

28 LLC-PK1) cho thấy, các chất được phân lập không độc với tế bào bình thường. Như vậy, alkaloid N- methylbenzoxazolinon (CT3) ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư cơ vân người với IC 50 = 67,0 μm, Flavonoid hispidulin (CT5) có tác dụng trên dòng tế bào ung thư vú với IC 50 = 86,6 μm, CT7 ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư cơ vân người với IC 50 = 42,5 μm và trên dòng tế bào ung thư vú với IC 50 = 13,4 μm. Đặc biệt, hợp chất acid betulinic (CT2) có tác dụng ức chế mạnh cả hai dòng tế bào ung thư vú và cơ vân với IC 50 là 17,6 μm và 2,94 μm, nhưng không có độc tính trên dòng tế bào bình thường. Khảo sát cơ chế liên quan hoạt tính độc tế bào của CT2 cho thấy hợp chất acid betulinic gây độc tế bào theo cả hai cơ chế hoại tử tế bào và hoạt hóa quá trình apoptosis. Thoái hóa khớp: yếu tố nguy cơ và di truyền Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 18/06/2019 Đề tài do tác giả Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự (trường Đại học Tôn Đức Thắng) thực hiện nhằm xác định tần suất hiện mắc của thoái hóa khớp tại các vị trí khớp gối, bàn tay trong cộng đồng nghiên cứu; xác định yếu tố nguy cơ lâm sàng và môi trường có liên quan đến thoái hóa khớp tại các vị trí trên; xác định mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền (hệ số di truyền) với nguy cơ thoái hóa khớp. Thoái hóa khớp (osteoarthritis - OA) là một vấn đề y tế công cộng đang được thế giới rất quan tâm, vì qui mô lớn và hệ quả nghiêm trọng của bệnh trong cộng đồng. Thoái hóa khớp là một bệnh phức tạp với đặc điểm chính của bệnh là tổn thương toàn bộ cấu trúc khớp thay vì chỉ tổn thương sụn khớp như quan niệm trước đây. Hiện nay, nguyên nhân chính xác của thoái hóa khớp vẫn chưa được xác định. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong thời gian qua đã phát hiện một số yếu tố nguy cơ có liên quan đến thoái hóa khớp. Những yếu tố này có thể chia thành 2 nhóm chính: các yếu tố có thể thay đổi được như mật độ xương, lối sống - dinh dưỡng; và các yếu tố không thay đổi được như chỉ số nhân trắc, tình trạng hormone, yếu tố gia đình, chủng tộc, di truyền. Các yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh thoái hoá khớp là độ tuổi, sức cơ, mật độ xương, thành phần cơ thể, béo phì cũng như các bệnh đi kèm, và yếu tố di truyền. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết những yếu tố này ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ thoái hoá khớp ở bệnh nhân Việt Nam. Chúng ta cũng chưa biết tần số người Việt bị thoái hoá khớp là bao nhiêu do thiếu nghiên cứu trong cộng đồng. Trong điều kiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu như hiện nay, xác định yếu tố nguy cơ đóng vai trò rất quan trọng, giúp định hướng phát triển các biện pháp phòng ngừa cũng như chặn đứng tiến triển của bệnh. Nhóm đề tài tiến hành nghiên cứu nam và nữ từ 40 tuổi trở lên, theo hộ gia đình có quan hệ huyết thống bao gồm cha mẹ, con cháu, anh em (ít nhất có một cặp hoặc là anh em, hoặc cha/mẹ-con). Tất cả đối tượng nghiên cứu được chụp Xquang khớp gối, bàn tay; thu thập thông tin liên quan nhân trắc, lối sống, hoạt động thể chất, lâm sàng, đo mật độ xương tại các vị trí xương cột sống, xương đùi và toàn thân; đo sức cơ tại các vị Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

29 trí tay, chân và lưng; lấy máu thực hiện các xét nghiệm liên quan đến các yếu tố nguy cơ hoặc bệnh đi kèm của thoái hóa khớp. Kết quả ghi nhận tần suất chung trên Xquang của OA khớp gối là 44,6% (với nữ nhiều hơn nam: 49,8% vs 34,3%), trong khi ở vị trí bàn tay là 39,8% (với nam có tỉ lệ cao hơn nữ: 41,9% vs 38,7%). Ở cả 2 vị trí, tần suất thoái hoá khớp đều gia tăng theo độ tuổi. Qua phân tích hồi qui đa biến, nhóm nghiên cứu xác định có 4 yếu tố độ tuổi, giới tính, BMI và chỉ số HbA1c có liên quan với nguy cơ OA khớp gối trên Xquang, trong khi tại vị trí bàn tay chỉ có 2 yếu tố độ tuổi và BMI có tương quan. Điều này cho thấy bên cạnh biện pháp giảm béo phì tích cực để phòng ngừa và điều trị thoái hóa khớp gối đã quen thuộc, trong thực hành cũng cần giảm cân để điều trị thoái hóa bàn tay; đồng thời phải tăng cường tầm soát thoái hóa khớp gối ở các bệnh thường đi kèm và làm tăng nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt ở người bệnh đái tháo đường. Ngoài ra, khi đánh giá ảnh hưởng của thoái hoá khớp tới gánh nặng lâm sàng và chất lượng cuộc sống, nhóm nghiên cứu ghi nhận độ nặng của OA khớp gối gắn liền với biểu hiện đau, cứng khớp, giới hạn chức năng vận động và giảm chất lượng cuộc sống. Trong khi đó tác động lên đau, chức năng vận động và chất lượng cuộc sống của OA bàn tay không được xác định.kết quả đề tài cũng tìm thấy hệ số di truyền của OA khớp gối là 56,5% và OA bàn tay là 51,8%, phản ánh tầm quan trọng của yếu tố di truyền so với yếu tố môi trường. Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống về tần suất, yếu tố nguy cơ và yếu tố di truyền của thoái hóa khớp ở Việt Nam. Dữ liệu từ nghiên cứu này không chỉ giúp cho nhân viên y tế cũng như cộng đồng hiểu hơn về các yếu tố liên quan đến thoái hóa khớp, mà còn là cơ sở để thực hiện tiếp các nghiên cứu cohort nhằm xây dựng mô hình tiên lượng giúp nhận diện cá nhân có nguy cơ cao sớm. Từ đó có thể xây dựng, phát triển những mô hình chẩn đoán và can thiệp sớm nhằm giảm nguy cơ bệnh cho cá nhân và giảm gánh nặng của bệnh trong cộng đồng về mặt kinh tế y tế cũng như giảm tỷ lệ mất chức năng vận động, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân thoái hóa khớp Phát hiện loài cây rừng kháng được bốn dòng ung thư Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 17/06/2019 Cây thìa là hóa gỗ tìm thấy ở Hà Giang, có hoạt tính sinh học gây độc lên các tế bào ung thư phổi, vú, gan, tiền liệt tuyến. Các nhà khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã công bố về việc phát hiện hai loài của chi thìa là hóa gỗ (Xyloselinum Pimenov & Kljuykov) ở tỉnh Hà Giang. Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài do TS. Nguyễn Phương Hạnh làm chủ nhiệm, thực hiện trong hai năm Phân lập các chất từ hai loài thìa là hóa gỗ việt (Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov) và thìa là hóa gỗ Leonid (X.leonidii Pimenov & Kljuykov), các nhà khoa học phát hiện hợp chất falcarindiol từ loài thìa là hóa gỗ việt có tác dụng gây độc cho cả bốn dòng tế bào ung thư phổi, vú, gan và tiền liệt tuyến. Thử trong ống nghiệm chất này thể hiện tác dụng kháng viêm mạnh. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

30 Cây thìa là hóa gỗ được lấy mẫu tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng dữ liệu sinh học, sinh thái hai loài thìa là hóa gỗ việt và thìa là hóa gỗ leonid tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ và vùng núi đá vôi thuộc xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Cả hai loài đều được người dân địa phương sử dụng thân rễ ngâm rượu để uống, xoa bóp vết thương. Cây thìa là hóa gỗ thường phân bố ở độ cao m và một số nơi nhưng đang bị khai thác mạnh vì mục đích thương mại. Do đó, nguồn gene của chúng đang bị đe dọa nghiêm trọng. Vì thế các kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho việc bảo tồn nguồn gene quý hiếm và nghiên cứu sâu hơn về các đặc tính và hoạt tính mới của chi thìa là hóa gỗ ở Việt Nam. Độc giả quan tâm có thể tìm hiểu nghiên cứu tại đây Nguồn: Đoàn Trung, vnexpress.net, 13/06/2019 Hoạt tính ức chế bệnh ung thư và HIV từ cây xạ đen Lá cây xạ đen. Nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí sinh hóa quốc tế Medicines của MDPI ngày 4/5 về lá cây xạ đen có tác dụng chống oxy hóa mạnh và ức chế bệnh ung thư. Tác giả là nhóm nghiên cứu người Việt Nam và Indonesia do PGS Trần Đăng Xuân,Trưởng phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật và Hóa sinh (Đại học Hiroshima, Nhật Bản) đứng đầu. Cây xạ đen tên khoa học là Celastrus hindsii. Các nhà khoa học đã thu thập lá cây xạ đen ở xã Cao Dương, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào 5/2017 để đánh giá hoạt tính chống oxy hóa gồm các chất phenolics (TPC) và flavonoids (TFC). Mẫu lá được khử trùng và sấy khô ở nhiệt độ 30 độ C, sau đó phân tách các phân đoạn hoạt tính từ chiết xuất của lá cây bằng phương pháp phân tích sắc khí ký ghép khối phổi (GC-MS) và sắc ký lỏng ghép khối phổ (EIS-MS). Các thí nghiệm để đánh giá các hoạt chất có trong lá cây cũng được thực hiện, trong đó đặc biệt quan tâm tới hàm lượng phenolic chứa nhiều hoạt động dược lý như khả năng chống oxy hóa và chống viêm, khả năng ức chế mạnh bệnh tim mạch, ung thư và tiểu đường. Các hoạt tính sinh học như kháng Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

31 khuẩn, chống viêm, chống ung thư và ức chế protein kinase cũng được đánh giá. Ngoài các hợp chất thuộc nhóm phenolics và flavonoids, trong cây xạ đen còn có một số hợp chất quan trọng như Maytenolione A (C30H46O4) và Celasdine B (C30H50O3) được phân lập từ lá cây xạ đen và được phát hiện có độc tính mạnh đối với các dòng tế bào ung thư cũng như hoạt động chống sao chép của HIV. Các phát hiện của nghiên cứu này cho thấy lá cây xạ đen chứa nhiều hợp chất hoạt tính sinh học có thể được khai thác cho mục đích y học và dược phẩm. Loại cây này có đặc tính chống oxy hóa mạnh, cho hàm lượng phenolics và flavonoids cao. Tuy nhiên, cần thêm các nghiên cứu sâu hơn về phân lập và tinh chế các thành phần chính này từ chiết xuất lá cây xạ đen. PGS Trần Đăng Xuân cho rằng các cây dược liệu như xạ đen hứa hẹn mang nhiều giá trị lớn về y dược cũng như kinh tế cho Việt Nam, tuy nhiên cần nhiều nghiên cứu cơ bản phân tích xác định rõ hàm lượng các chất hóa học cũng như hoạt tính sinh học trên tế bào và lâm sàng. NÔNG NGHIỆP Độc giả quan tâm có thể tìm hiểu nghiên cứu tại đây Nhóm nghiên cứu gồm các tác giả: 1. Trần Đăng Xuân, Trưởng phòng thí nghiệm Sinh lý thực vật và Hóa sinh (Đại học Hiroshima, Nhật Bản); 2. Trần Đức Việt, nghiên cứu sinh Khoa Hợp tác và Phát triển Quốc tế (Đại học Hiroshima, Nhật Bản); 3. Trương Mai Vân, nghiên cứu sinh Khoa Hợp tác và Phát triển Quốc tế (Đại học Hiroshima, Nhật Bản); 4. Ramin Rayee, sinh viên Thạc sĩ Khoa Hợp tác và Phát triển Quốc tế (Đại học Hiroshima, Nhật Bản); 5.Yusuf Andriana Nghiên cứu sinh Đại học Hiroshima, cán bộ nghiên cứu Viện khoa học Indonesia; 6. PGS.TS Trần Hoàng Dũng (Khoa Công nghệ sinh học, Đại học Nguyễn Tất Thành, TPHCM, Việt Nam). Nguồn: Nguyễn Xuân, vnexpress.net, 06/06/2019 VNPT Smart Agri: Thêm giải pháp hỗ trợ nông dân thời 4.0 Giải pháp quản lý nông nghiệp thông minh (VNPT Smart Agri). Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao đang là một trong những mục tiêu hướng đến trong phát triển nông nghiệp tại Việt Nam, trong đó, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là yếu tố không thể thiếu. Đồng hành cùng sự chuyển mình và phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, Tập đoàn VNPT đã cung cấp các giải pháp, Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

32 dịch vụ hỗ trợ ngành nông nghiệp toàn bộ quy trình từ khâu quản lý sản xuất như giám sát thời tiết, thổ nhưỡng, dịch bệnh, tiêm chủng, tưới tiêu đến khâu tiêu thụ, truy xuất nguồn gốc hàng hóa thúc đẩy liên kết 4 nhà (nhà nông, nhà nước, nhà khoa học và nhà doanh nghiệp) nhằm tiến đến một ngành nông nghiệp an toàn thực phẩm, hiệu quả và bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế. Trong đó, giải pháp nông nghiệp thông minh (VNPT Smart Agri) được triển khai gần đây đã hỗ trợ nông dân, chủ trang trại sản xuất theo chuỗi khép kín của nông nghiệp xanh và thông minh nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nhờ ứng dụng CNTT hiệu quả, sẵn sàng trước xu thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao thời 4.0. Giải pháp nông nghiệp thông minh VNPT Smart Agri được phát triển trên nền tảng IoT Platform - Smart Connected Platform (SCP). Giải pháp nông nghiệp thông minh được thiết kế để triển khai trên nhiều đơn vị diện tích khác nhau, với khả năng tùy biến cao và nhân rộng không giới hạn. Trên mỗi đơn vị diện tích triển khai, các thiết bị lắp đặt có thể tùy biến linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu giám sát và điều khiển thiết bị phục vụ nhu cầu sinh trưởng của từng cây trồng. Hệ thống nông nghiệp thông minh hoạt động dựa trên nguyên lý chung của nền tảng Smart Connected Platform do VNPT phát triển, kết nối các thiết bị thông qua IoT gateway và kết nối với Cloud thông qua mạng Internet. VNPT Smart Agri hỗ trợ nông dân, chủ trang trại sản xuất theo chuỗi khép kín của nông nghiệp xanh và thông minh, nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm. Giải pháp ứng dụng phần mềm và phần cứng được thiết kế để giám sát toàn bộ quá trình từ sản xuất đến thu hoạch, chế biến và vận chuyển theo chuẩn thiết kế định hướng trang trại ứng dụng công nghệ cao. Với VNPT Smart Agri, người nông dân có thể quản lý và hỗ trợ vận hành trang trại; quản lý vật tư và chi phí; cung cấp các thông tin như thời tiết, thị trường cho nông dân, chủ trang trại; theo dõi nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng trong trang trại theo thời gian thực; giám sát chất lượng nước; tưới tiêu tự động; quản lý mùa vụ và phương thức thu hoạch. Giải pháp cũng cung cấp hệ thống camera giám sát điều khiển từ xa; quản lý hệ thống logistics, vận chuyển; quản lý khách hàng; hệ thống báo cáo phân tích chuyên sâu Được biết, thời gian qua, các giải pháp nông nghiệp thông minh VNPT Smart Agri và truy xuất nguồn gốc hàng hóa của VNPT đã được áp dụng rộng rãi tại các địa phương trong cả nước như Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Giang, Thái Bình, Đà Nẵng, Kon Tum, Cần Thơ, Bến Tre, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cà Mau... trên nhiều đặc sản nông nghiệp địa phương đem lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp, hộ gia đình cũng như nhận được phản hồi tích cực từ người tiêu dùng. Trong thời gian tới, cùng với các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, VNPT cho biết, sẽ tiếp tục tập trung phát triển các giải pháp, dịch vụ CNTT trong lĩnh vực nông nghiệp với mục tiêu chuyển từ khái niệm nhà mạng viễn thông sang nhà cung cấp dịch vụ truyền thông kỷ nguyên số, nhằm chuyển đổi sang kinh doanh các dịch vụ số, các dịch vụ giá trị gia tăng, CNTT, truyền thông và công nghiệp CNTT, trở thành nhà cung cấp dịch vụ số hàng đầu Việt Nam và Trung tâm giao dịch số thị trường khu vực và thế giới vào năm Nguồn: Hiền Minh, baochinhphu.vn, 05/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

33 Gieo "mùa vàng" trên đất mặn GS.TS Nguyễn Thị Lang (bên phải) giới thiệu các công trình nghiên cứu về giống lúa Việc nghiên cứu chọn tạo các giống lúa chịu mặn có ý nghĩa rất lớn đối với ĐBSCL - vùng sản xuất lúa gạo trọng điểm, nơi cung ứng hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước nhưng lại là một trong ba vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu. Trước tình hình đó, trong suốt nhiều năm qua, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã quyết tâm tạo ra các giống lúa chất lượng, giữ vai trò chủ lực trong vụ mùa tại Nam bộ; đồng thời, giúp người nông dân thu thêm hàng nghìn tỷ đồng lợi nhuận mỗi năm. Đối với GS.TS Nguyễn Thị Lang, công cuộc đi tìm những giống lúa thích nghi với hoàn cảnh biến đổi khí hậu là một nhiệm vụ cấp bách, đầy khó khăn và thử thách, nhưng khoa học luôn mang lại cho bà niềm hạnh phúc và sự say mê. Trong hơn 25 năm làm nghiên cứu, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã lai tạo thành công hơn 73 giống lúa, trong đó có 31 giống lúa đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận và đưa vào sản xuất tại các tỉnh vùng ĐBSCL, 106 giống lúa được đánh giá là triển vọng và đang trong quá trình khảo nghiệm cấp quốc gia. Bà cũng là người chủ trì và trực tiếp tham gia hơn 100 đề tài về sản xuất lúa gạo. Một trong những đóng góp nổi bật của GS.TS Nguyễn Thị Lang là việc chọn tạo thành công các giống lúa chịu mặn có nguồn gốc từ giống lúa trời, dân gian gọi là "lúa ma". "Lúa ma" là giống lúa hoang dã, có sức sống mãnh liệt giữa vùng trũng Đồng Tháp Mười. Vào mùa lũ, giống lúa này vượt lên nước lũ để trổ bông, đơm bông, mang tặng con người những hạt gạo thơm ngọt, cứu sống bao người những năm chiến tranh, đói kém. Biết "lúa ma" có phẩm chất đặc biệt ấy, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã lặn lội về Đồng Tháp Mười tìm cách nghiên cứu kết hợp những tính năng chịu đựng ưu việt của "lúa ma" với giống lúa cao sản để tạo nên giống lúa mới. Hơn 10 năm ròng rã, giống lúa mới mang tên AS996 (còn có tên OM2424) đã ra đời với các tính năng nổi trội về khả năng sinh trưởng trong điều kiện đất phèn, thiếu lân, khả năng chịu mặn cao, kháng rầy nâu; đặc biệt, có khả năng phát triển tốt ở nhiều vùng, đạt năng suất cao, trở thành giống lúa chuẩn mực về tính chống chịu trong điều kiện khắc nghiệt. AS996 không chỉ được trồng rộng rãi ở các vùng ngập mặn nước ta mà còn được chuyển giao sang nhiều nước trên thế giới. Tiếp sau đó, hàng chục giống lúa chịu mặn tiếp tục ra đời như: OM4498, OM5930, OM4900, OM6073 Đến nay, GS.TS Nguyễn Thị Lang đã chọn tạo được 24 giống lúa được công nhận là giống lúa quốc gia. Hiện, bà đang nghiên cứu thêm các giống lúa có tính kháng đối với nhiều loại bệnh, côn trùng, có hàm lượng dinh dưỡng cao, khả năng chống khô hạn, ngập úng, nhiễm mặn... Ngoài ra, bà còn xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến cho một số loại rau, quả đạt chuẩn an toàn vệ sinh, tạo Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

34 nguồn lương thực sạch cho tiêu dùng và xuất khẩu. Từ đây, nhiều mô hình cánh đồng triệu đồng/ha đã ra đời, góp phần tích cực và hiệu quả trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế hộ gia đình, khuyến khích người nông dân sản xuất, hạn chế tình trạng ly nông, ly hương thường xảy ra ở nông thôn Nam bộ. Chia sẻ tại Lễ trao Giải thưởng Trần Đại Nghĩa, GS.TS Nguyễn Thị Lang cho biết, bà sẽ không dừng lại ở giải thưởng này mà tiếp tục chặng đường dài phấn đấu để có những nghiên cứu đột phá trong ngành nông nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu khoa học phải thực sự hướng đến ứng dụng vào sản xuất có hiệu quả, cạnh tranh được với các quốc gia khác. "Bản thân tôi luôn suy nghĩ tới đây sẽ tổ chức như thế nào để nâng cao giá trị sản xuất hàng hóa của cây lúa cho người nông dân" - GS.TS Nguyễn Thị Lang nói. Phương pháp xử lý sầu riêng ra bông nghịch vụ Nguồn: Quỳnh Nga, congthuong.vn, 17/06/2019 Tới mùa xử lý ra bông nghịch vụ cây sầu riêng, điện thoại của anh Bảy Hiền reo liên tục đến tối. Anh hướng dẫn tận vườn rồi từ xa qua điện thoại cho nông dân từng bước một như canh đọt, tưới nước, vô phân đúng từng thời điểm. Anh còn áp dụng kỹ thuật mới giúp nông dân không cần đi thụ phấn bằng tay mỗi đêm lúc bông trổ. Suốt nhiều năm qua, anh Hiền đi khắp nơi giúp người trồng sầu riêng cách xử lý ra bông nghịch vụ, hầu hết những vườn anh hướng dẫn đều ra bông thành công rất cao. Bất cứ ai anh cũng giúp, giúp bằng tấm lòng chứ không nhận tiền công. Mùa nghịch, giá trái sầu riêng thường cao gấp 3 lần. Tuy nhiên, để cây sầu riêng trổ bông và đậu trái mùa nghịch rất khó khăn, không phải người trồng nào cũng điều khiển thành công. Là người trồng sầu riêng và thất bại liên tiếp, trắng tay với cây sầu riêng nhưng anh Hiền không bỏ cuộc... Anh kể, dành dụm tiền chuyển đổi trồng sầu riêng, chăm sóc chờ cây cho trái, nhưng không hiểu sao suốt 3 năm liên tiếp, vườn sầu riêng của anh thất mùa, cây không ra bông, trái không đạt... Từ đó, anh và chiếc xe đạp cũ rong ruổi khắp nơi, nghe chỗ nào có trồng sầu riêng là anh hỏi thăm đi tới xin vào tham quan, học hỏi. Anh về bắt đầu lại với cây sầu riêng và thành công, tất cả các kinh nghiệm học tập được anh ghi nhớ, bổ sung cho phù hợp từng vùng đất và biến nó thành một quy trình kỹ thuật. Trong kỹ thuật của anh Hiền, khi xử lý chính là cách nuôi dưỡng cây chứ không ép cây ra bông bằng mọi giá để sau vụ trái cây suy kiệt. Hai lúa thứ thiệt nhưng anh Hiền rất chú trọng sinh học, hữu cơ. Anh lặn lội lên thành phố tìm công ty chuyên cung cấp phân hữu cơ chất lượng giúp nông dân. Anh Hiền cho biết, trồng cây sầu riêng rất khó, không nên lạm dụng phân thuốc hóa học, trong xử lý ra bông cũng vậy, quá nhiều thuốc hóa học, Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

35 cưỡng bức cây ra bông... nhưng sau đó là hậu quả nặng nề, cây suy kiệt nặng, cháy rễ, khô cành, mất sức kháng nên dễ bị bệnh tấn công, cây chết dần. Nhiều vườn sầu riêng hơn 10 năm tuổi, chỉ vì nôn nóng xử lý ra bông mà nông dân lạm dụng chất hóa học, phân hóa học quá mức, sau vụ trái vườn xuống cấp và chết dần không thể cứu chữa. Để chuẩn bị xử lý nghịch vụ cho cây sầu riêng, đầu tiên anh Hiền tới xem vườn, kiểm tra cây, hướng dẫn nông dân cách chăm sóc đất, bồi bổ đất đúng đặc tính cây sầu riêng, chăm sóc rễ khỏe. Khi thấy cây khỏe mạnh, đạt yêu cầu thì anh mới cho xử lý ra bông. Hầu hết những vườn được anh xử lý đều ra bông 80-90%, ngay cả khi thời tiết bất lợi. Anh Hiền hay chọn thời điểm xử lý vào tháng 7-8 âm lịch, dù đây là thời điểm mưa nhiều, khó xử lý, nhưng là thời điểm vàng để bán trái giá cao nhất trong năm. Nông dân đồng bằng sông Cửu Long canh lúc bông trổ phải đi quét hạt phấn và thụ phấn cho bông vào chiều tối, tuy nhiên theo cách xử lý mới của anh Hiền thì không cần đi thụ phấn nhưng tỷ lệ đậu trái vẫn rất cao. Nhiều năm qua, cái tên Bảy Hiền trở nên gần gũi với nông dân trồng sầu riêng ở Bến Tre, Tiền Giang, Vĩnh Long... và hầu hết vườn anh hướng dẫn đều ra nhiều bông, trái đẹp, cây không bị suy kiệt sau thu hoạch. Nông dân khoái Bảy Hiền ở chỗ không ngại xa xôi, ai kêu anh cũng tới. Giúp mà không hề nhận tiền công và xem đó là một niềm vui khi thấy cây sầu riêng trổ bông và nông dân được mùa. Bởi đó là tâm nguyện của anh, anh hiểu sự thất bại của việc trồng sầu riêng với nông dân mà chính anh đã trải qua. Thêm cái đặc biệt của Bảy Hiền nữa là không giấu nghề, anh truyền kinh nghiệm này cho nhiều bạn bè, anh em và họ lập thành đội sẵn sàng hỗ trợ nông dân lúc cần. Đi thăm vườn sầu riêng trái oằn sai, Bảy Hiền cười vui và nhất quyết không chịu nhận quà chủ vườn, anh nói bằng chất giọng hiền như chính cái tên của anh: Làm tốt thì chỉ cho người khác làm theo coi như trả công tui rồi đó. (Bảy Hiền tên thật là Lê Văn Hiền, ở ấp Sơn Lân, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, Bến Tre. Điện thoại: ). Nguồn: Phương duy, khoahocphothong.com.vn, 20/06/2019 Nghiên cứu ứng dụng chất tạo màng sinh học nhằm kéo dài thời gian bảo quản quýt Đề tài Ứng dụng saponin kết hợp với chitosan và axit axetic tạo màng sinh học, nhằm kéo dài thời gian bảo quản và giữ được các đặc tính đặc trưng của quả quýt tỉnh Cao Bằng do PGS. TS. Nguyễn Văn Lợi (Viện Công nghệ HaUI - Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội) làm chủ nhiệm đã đạt được những kết quả tích cực và có tính ứng dụng cao. Sau 2 năm triển khai thực hiện (12/ /2019), đề tài đã đáp ứng được mục tiêu và nội dung đề ra, cụ thể: xác định phương pháp tạo màng phù hợp để bảo quản quả quýt; biến đổi chất lượng của quả quýt Cao Bằng trước và trong quá trình bảo quản; xây dựng quy trình công nghệ bảo quản quả quýt Cao Bằng bằng màng sinh học saponin kết hợp với chitosan và axit axetic ở điều kiện bình thường với nông độ chế phẩm là 1,5% Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

36 và thời gian nhúng là 2 phút; xây dựng mô hình bảo quản quýt bằng màng sinh học (quy mô 0,75 tấn/mẻ bảo quản tại xã Quang hán, huyện Trà Lĩnh), kết quả cho thấy sau 6 tuần bảo quản quả quýt vẫn giữ được các đặc tính, đặc trưng, bên cạnh đó đưa ra được 6 giải pháp, ứng dụng nhân rộng kết quả nghiên cứu của đề tài; tổ chức 1 lớp tập huấn kỹ thuật và 1 hội thảo khoa học về quy trình công nghệ bảo quản quả quýt bằng màng sinh học. Hình ảnh quýt bảo quản tại mô hình Mới đây, Sở KH&CN Cao Bằng đã tổ chức họp Hội đồng khoa học đánh giá nghiệm thu đè tài. Cơ quan chủ trì và nhóm thực hiện đề tài đã nghiêm túc triển khai thực hiện và hoàn thành các nội dung theo Hợp đồng đã ký kết, kết quả của đề tài là cơ sở để chính quyền địa phương tiếp tục đầu tư, áp dụng giải pháp đối với những loại rau quả khác tại địa phương. Hội đồng cũng đề nghị nhóm tác giả bổ sung, chỉnh sửa một số nội dung trong báo cáo tổng kết, như: cần đánh giá thêm về tình hình áp dụng màng bọc sinh học này với những loại rau quả khác trên địa bàn tỉnh Cao Bằng; quy trình kỹ thuật bảo quản cần viết dễ hiểu, dễ áp dụng với người dân; cần đánh giá thêm hiệu quả kinh tế, kỹ thuật, môi trường của quy trình; tiếp tục tuyên truyền kết quả của đề tài để lãnh đạo địa phương, các doanh nghiệp, các hợp tác xã và người dân quan tâm áp dụng và mở rộng sản xuất Nhóm nghiên cứu Đề tài đã tổ chức buổi tập huấn kỹ thuật bảo quản quả quýt Trà Lĩnh bằng màng sinh học (saponin kết hợp với chitosan và axit axetic). Tới dự buổi tập huấn, về phía Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Cao Bằng có sự tham dự của Bà Vũ Thị Hồng Thúy - Phó Giám đốc và các cán bộ của Sở, đại diện UBND xã Quang Hán và UBND huyện Trà Lĩnh, cùng đông đảo các hộ nông dân trồng quýt trên địa bàn xã Quang Hán. Quýt là cây trồng được trồng nhiều ở tỉnh Cao Bằng hiện nay, đặc biệt là ở huyện Trà Lĩnh có 70,04 ha. Công nghệ xử lý, bảo quản tại đây phần lớn vẫn theo phương pháp truyền thống với quy mô nhỏ, chi phí bảo quản cao (bảo quản bằng hóa chất, bảo quản lạnh) nên số lượng sản phẩm bảo quản tuy nhiều nhưng chất lượng chưa cao, thời gian bảo quản ngắn, tỷ lệ thối hỏng trong quá trình bảo quản cao nên chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Công nghệ bảo quản quả quýt bằng màng sinh học saponin kết hợp với chitosan và axit axetic được thực hiện trong điều kiện môi trường tự nhiên, do đó tiết kiệm được các chi phí trong quá trình bảo quản và áp dụng được ở nhiều quy mô như quy mô công nghiệp, quy mô trang trại, quy mô gia đình, với giá thành chỉ bằng 60-65% so với phương pháp bảo quản lạnh. Đặc biệt đây là màng sinh học, ăn được do đó đáp ứng được đầy đủ các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Nguồn: NASATI, vista.gov.vn, 26/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

37 Lại tạo thành công 3 giống thanh long cao cấp mới TS. Trần Thị Oanh Yến giới thiệu ba giống thanh long mới có ruột đỏ, trắng và hồng Ba giống thanh long ngọt đậm, cho năng suất cao, bảo quản được lâu hơn và còn có khả năng kháng bệnh đốm nâu nan giải vốn ảnh hưởng mạnh đến khả năng xuất khẩu loại trái này, vừa được Viện Cây ăn quả Miền Nam (SOFRI) lai tạo thành công bằng công nghệ DNA. Thông tin này được TS. Trần Thị Oanh Yến Phó Viện trưởng SOFRI cho biết tại Hội thảo Mô hình thương mại hóa các giống trái cây cao cấp Lộ trình cho trái thanh long chất lượng cao của Việt Nam do Đại sứ quán New Zealand phối hợp với SOFRI tổ chức ngày 5/6 tại TPHCM. Ba giống thanh long trên cũng là kết quả của dự án Phát triển giống cây cao cấp do Viện Nghiên cứu cây trồng và thực phẩm New Zealand, SOFRI và Phân viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch thực hiện. Dự án do Chương trình phát triển New Zealand tài trợ, trị giá 8,1 triệu USD, được thực hiện từ năm Bà Yến cho biết, sử dụng công nghệ DNA để chọn lọc bố mẹ và lai tạo, các giống thanh long mới nói trên có vị ngọt đậm hơn, chắc thịt so với các giống cũ. Đặc biệt, giống ruột hồng có hương thơm nhẹ và chưa một giống nào trước đây có mùi vị đặc trưng. Ưu việt của các giống này không chỉ cho năng suất cao mà, bảo quản được lâu hơn mà còn có khả năng kháng bệnh đốm nâu đây là loại bệnh phổ biến và nan giải trên trái thanh long của Việt Nam bà Yến nói và cho biết thêm, tính kháng bệnh này sẽ giúp trái thanh long Việt Nam dễ dàng hơn khi xuất khẩu bởi thời gian ra hoa đến khi thu hoạch trái thanh long thường ngắn, việc phun thuốc trừ sâu dễ để lại dư lượng trên trái. Trong khi đó, các loại thuốc trừ bệnh đốm nâu đều nằm trong danh mục không thể xuất khẩu đến các thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản,... TS. Michael Lay-Yee, Viện Nghiên cứu cây trồng và thực phẩm New Zealand, cho biết, ngoài việc lai tạo ra các giống thanh long cao cấp, Dự án còn phát triển thành công mô hình trồng, xử lý sau thu hoạch thanh long theo phương pháp cải tiến và quy trình kiểm soát bệnh đốm nâu. Cụ thể, Dự án thực hiện thí tại các tỉnh Tiền Giang, Long An, Vĩnh Long, Trà Vinh và Bình Thuận phương phương trồng thanh long theo kiểu giàn chữ T, giúp người trồng kiểm soát được bệnh hại hiệu quả, chất lượng, kích quả đồng đều, năng suất cao gấn 2 3 lần so với kiểu trồng trụ. Bên cạnh đó, để nâng cao năng lực sau thu hoạch, dự án đã thực hiện việc giám sát nhiệt độ của kho lạnh, nhiệt độ xuất kho, cải thiện sự lưu thông không khí trong kho lạnh trong quá trình đóng gói, bảo quản. Các nhà khoa học của Việt Nam cùng với sự hợp tác của các nhà khoa học New Zealand chế tạo thành công máy rửa thanh long áp lực cao hoàn toàn tự động. Máy có khả năng làm sạch trái rất cao mà không làm tổn thương trái, giảm chi phí nhân công, tăng hiệu quả của việc xử lý diệt nấm cho trái sau thu hoạch. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

38 Theo bà Yến, các loại giống mới sẽ được đăng ký bản quyền trong nước và quốc tế. Dự kiến cuối năm 2020, dự án sẽ đưa vào sản xuất các giống mới để thương mại hóa tại Việt Nam và thị trường quốc tế.. Nguồn: Kiều Anh, khoahocphattrien.vn, 05/06/2019 Lai tạo thành công giống nho mới chất lượng cao từ nho dại Vừa qua, Cục trồng trọt (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) thành lập Hội đồng khoa học công nghệ đánh giá, công nhận giống nho ăn tươi NH là giống nho mới và cho phép sản xuất thử trước khi sản xuất đại trà. Giống nho NH có tên khoa học Mariaue finger là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học Nghiên cứu chọn tạo giống nho ăn tươi của tỉnh Ninh Thuận do Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố (tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận) nghiên cứu, lai tạo thành công từ trồng trên gốc ghép của giống nho dại. Theo đánh giá của Viện nghiên cứu bông và phát triển nông nghiệp Nha Hố, qua thời gian trồng khảo nghiệm, giống nho ăn tươi NH có nhiều ưu điểm như: cây nho có thể trồng trên nhiều nền chân đất khác nhau, vào mùa mưa, bông xổ cũng khó tụt. Thời tiết nắng nóng nhưng cây vẫn đậu trái, tỷ lệ đậu trái cao, khả năng kháng sâu bệnh tốt. Tùy theo chế độ canh tác, giống nho mới này cho năng suất bình quân tấn/ha/vụ; trong điều kiện thâm canh đạt tấn/ha/vụ, sản xuất được 2 vụ/năm. Giống nho NH có đặc điểm trái to, trọng lượng từ 0,5 - trên 1,5 kg/chùm. Vỏ trái dày, thịt chắc, giòn, độ ngọt vừa phải. Vị thơm nhẹ rất đặc trưng, khi chín trái có màu đỏ vang rất đẹp. Chất lượng trái của giống nho NH tương đương với sản phẩm nho cùng loại từ nước ngoài nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Sản phẩm hiện được các thương lái thu mua tại vườn với giá dao động từ đồng/kg, cao gấp 2-3 lần so với giống nho Red Cardinal và nho xanh NH Đây là cơ sở để đưa giống nho mới NH vào sản xuất, giúp nông dân có giống nho tốt để trồng; lựa chọn thay thế một số giống nho cũ đang bị thoái hóa. Cách làm này nhằm đa dạng hóa giống nho ăn tươi chất lượng cao của tỉnh hiện nay. Thời gian tới, viện tiếp tục nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện tối ưu quy trình kỹ thuật canh tác đối với giống nho này để nâng hiệu quả sản xuất. Nguồn: T.L, khoahocphothong.com.vn, 20/06/2019 Nano bạc trong phòng và trị bệnh viêm móng bò sữa Hiệu quả của Nano bạc trong phòng và trị bệnh viêm móng bò sữa là đề tài được thực hiện bởi nhóm tác giả Ngô Đình Tân, Tăng Xuân Lưu, Đặng Thị Dương, Khuất Thị Thu Hà, Trần Thị Loan, Phùng Thị Diệu Linh, Phùng Quang Trường (Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì), Nguyễn Hoài Châu, Trần Văn Tựa, Đào Trọng Hiền (Viện Công Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

39 nghệ Môi trường) và Nguyễn Thị Thanh Hà (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) với mục tiêu xác định và phân loại mức độ viêm móng trên đàn bò sữa và hiệu quả sử dụng nano bạc trong phòng và điều trị viêm móng. Sức khỏe chân móng của bò có vai trò rất quan trọng. Viêm móng gây thiệt hại không nhỏ về kinh tế cho người chăn nuôi bò sữa, làm giảm khả năng sản xuất, sinh sản, Nguyên nhân gây ra viêm móng rất đa dạng, bao gồm: trang trại vệ sinh kém, rối loạn trao đổi chất, Ở Việt Nam, bệnh chân móng bò xuất hiện từ nhiều năm trước, tỷ lệ viêm móng bò sữa tại Ba Vì có xu hướng tăng lên (11,85% năm 2012 và 13,84% năm 2015); bệnh xảy ra ở hầu hết các xã nuôi bò sữa, chủ yếu với bò sinh sản. Phòng bệnh viêm móng là thực sự cần thiết, bên cạnh đó việc điều trị cũng phải tiến hành kịp thời. Nhiều năm qua, việc phòng bệnh chủ yếu là dùng các chất kháng khuẩn như kháng sinh, iodine, Amoxicillin nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Ngày nay, công nghệ nano đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực chăn nuôi. Nano bạc có đặc tính kháng khuẩn cao, được thể hiện qua một số đặc tính lý hóa của hạt và khả năng bao phủ bề mặt. Chính vì thế, việc sử dụng nano bạc trong phòng và trị MÔI TRƯỜNG bệnh viêm móng bò sữa hứa hẹn sẽ là giải pháp mang lại hiệu quả đáng mong đợi. Nghiên cứu được thực hiện tại các trại nuôi bò sữa của Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì. Nhóm tác giả sử dụng dung dịch nano bạc, kem nano bạc, cùng các hóa chất phù hợp làm vật liệu nghiên cứu, đồng thời áp dụng phương pháp điều tra, phân loại mức độ viêm móng bò sữa (định dạng được 5 mức độ: mức 1: Bò đứng và đi lại bình thường; mức 2: Bò đứng hơi lùi về phía sau và hơi khom lưng, đi lại bình thường; mức 3: Bò cong lưng rõ ràng cả khi đi và đứng, dáng đi thay đổi; mức 4: Bò cong lưng rất rõ ràng, đi lại khó khăn; mức 5: Bò nằm, không đứng lên được), và kết hợp với phương pháp phân loại khả năng phòng và điều trị viêm móng cho từng loại nano bạc. Kết quả cho thấy, dung dịch nano bạc có tác dụng phòng bệnh viêm móng bò sữa (93,33%, cao hơn 13,33% so với Iodine). Khi bò bị bệnh thì kem nano bạc có tác dụng điều trị bệnh viêm móng mức 2 và 3 tốt hơn so với Amoxicillin, sau 10 ngày điều trị. Hơn nữa, tỷ lệ khỏi bệnh ở mức 4 đạt 40% sau khi điều trị bệnh móng sau 10 ngày. Nguồn: Kim Oanh, cesti.gov.vn, 19/06/2019 Nghiên cứu giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại các vùng núi cao Karst Đông Bắc Việt Nam. Áp dụng thử nghiệm tại vùng cao nguyên đá Đồng Văn Vùng núi cao karst Đông Bắc là khu vực phân bố các thành tạo cacbonat có khả năng thấm nước tốt, tuy nhiên do có địa hình cao, phân cắt sâu làm cho khả năng tàng trữ nước kém do bị thoát rất nhanh theo các hệ thống karst ra mạng lưới xâm thực địa phương tạo nên sự khan hiếm nước rất nghiêm trọng, gây khó khăn cho đời sống của nhân dân. Trong những năm qua, Nhà nước đã đầu tư thích đáng để giải quyết vấn đề nước sinh hoạt cho nhân dân ở các vùng núi cao thông qua nhiều Chương trình, Dự án Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

40 khác nhau do nhiều Bộ, Ngành khác nhau và các tổ chức quốc tế thực hiện. Nhiều giải pháp khai thác, sử dụng nước như xây bể, lu chứa nước, hoặc xây dựng nhiều hồ treo chứa nước, xây dựng các công trình nước tự chảy, khảo sát khoan thăm dò khai thác nước dưới đất... Đến nay, các công trình đó đã mang lại những hiệu quả nhất định nhưng tình trạng thiếu nước vẫn xảy ra thường xuyên, nhất là vào mùa khô hạn. Các hồ treo, bể chứa, công trình cấp nước hiện đã xuống cấp hoặc bị cạn kiệt do điều kiện thi công, thời tiết, khí hậu bất thường không đảm bảo cung cấp nước cho đời sống nhân dân và phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Như vậy vấn đề ở đây là giải pháp khai thác, sử dụng nguồn nước nào là hợp lý, bền vững để tận dụng tối đa và phát triển bền vững tài nguyên nước trong khu vực phục vụ cấp nước sinh hoạt, và sau nữa là nước cho hoạt động sản xuất lâu dài cho vùng cao núi cao karst Đông Bắc Việt Nam. Chính vì vậy, để có cơ sở định hướng các giải pháp khai thác khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước phục vụ nhu cầu ăn uống, sinh hoạt và sản xuất đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng tại các vùng núi cao karst Đông Bắc, nhóm nghiên cứu tại Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia do ThS. Phạm Bá Quyền làm chủ nhiệm, đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại các vùng núi cao Karst Đông Bắc Việt Nam. Áp dụng thử nghiệm tại vùng cao nguyên đá Đồng Văn trong thời gian từ tháng 1/2015 đến tháng 8/2017. Đề tài đạt được mục tiêu nghiên cứu là: - Xác lập được các giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại các vùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam; - Đề xuất mô hình thích hợp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại cao nguyên đá Đồng Văn. Một số kết quả nghiên cứu của đề tài: - Đã hệ thống hóa được các giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước trên thế giới và trong nước từ đó luận chứng đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng bền vững các nguồn nước phù hợp với điều kiện thực tiễn của nùng núi cao karst Đông Bắc Việt Nam. - Đã xác định được hiện trạng tài nguyên nước vùng núi cao karst Đông Bắc. - Đã đưa ra được cơ sở khoa học và xác lập được giải pháp khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước cho 213 xã, thị trấn thuộc 5 tỉnh trong vùng núi cao karst Đông Bắc. Kết quả nghiên cứu thực tiễn mô hình khai thác sử dụng nguồn nước tại vùng cao nguyên đá đã đánh giá được mô hình khai thác nguồn nước bằng giếng khoan tại thị trấn Đồng Văn là rất bền vững. Ngoài ra, đề tài đã đề xuất được mô hình khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước tại 21 giếng khoan và 189 mạch lộ có thể đưa vào khai thác, sử dụng ngay tại vùng cao nguyên đá Đồng Văn. Nguồn: N.P.D (NASATI), vista.gov.vn, 27/06/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

41 SMARTPH: Tự động quan trắc nước thải, khí thải và bụi ngay tại nguồn Hiệu chuẩn kiểm định thiết bị quan trắc nước thải online SmartpH Giám sát chất lượng môi trường (nước thải, khí thải) đang được xem là trách nhiệm xã hội, thậm chí đang dần trở thành tiêu chí bắt buộc ở từng doanh nghiệp có hoạt động sản xuất. Thay vì tốn chi phí cho nhân sự thực hiện chuyên trách việc theo dõi và báo cáo kết quả quan trắc sau khi nhận thông tin từ phòng thí nghiệm, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng tự động hóa quá trình quan trắc bằng hệ thống quan trắc chuyên dụng sử dụng cảm biến thông minh, đồng thời còn có khả năng truyền dữ liệu đến cơ quan quản lý nhà nước, như Sở Tài nguyên và Môi trường, để báo cáo. Thông qua dữ liệu đo đạc, cơ quan quản lý nhà nước sẽ nắm bắt thông tin kịp thời, có dự báo và sẵn sàng ứng phó với những trường hợp phát sinh biến cố. Ở khía cạnh xã hội, việc lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải là một trong những phương pháp thể hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường với cộng đồng, qua đó khẳng định và làm tăng thêm uy tín của doanh nghiệp. Được thiết kế và chế tạo trong nước, hệ thống quan trắc tự động SmartpH của Công ty Cổ phần Khoa học Kỹ thuật Phượng Hải có độ chính xác và độ bền rất cao, được Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng 3 (Quatest 3) và Trung tâm Quan trắc - Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận hiệu chuẩn. Ngoài việc đảm bảo phù hợp với Thông tư 24/2017/TT-BTNMT, SmartpH còn kết nối được với các Sở Tài nguyên và Môi trường. Ưu điểm của hệ thống quan trắc tự động SmartpH là sử dụng các cảm biến để theo dõi và phân tích dữ liệu của mẫu (nước thải, khí thải ) mà không cần phải đưa đến phòng thí nghiệm. Ngay khi đo được mức độ ô nhiễm của nguồn nước, tất cả các thông số sẽ được trả về nhanh chóng, độ tin cậy và chính xác cao, sẵn sàng gửi về trung tâm xử lý dữ liệu. Thông qua việc truyền tải dữ liệu trực tuyến, người vận hành có khả năng nắm bắt kết quả quan trắc ngay lập tức mà không cần mất nhiều thời gian như khi phải đến tận nơi để thu thập và mang mẫu nước về phân tích, đồng thời có thể kiểm tra được mức độ ô nhiễm của mẫu tại bất kì thời điểm nào. Tháng 12/2018, SmartpH đã được lắp đặt tại Công ty TNHH MTV Xi măng Sông Gianh (Quảng Bình) để đo chất lượng nước sông đầu vào, phục vụ hoạt động điều khiển việc tắt/bật bơm nước sông vào hồ chứa nước làm mát cho hệ thống nhiệt điện. Trong đó, bộ Transmitter đo đa chỉ tiêu (SmartpH-01M) là bộ hiển thị và điều khiển thông minh có khả năng đo mở rộng được 08 chỉ tiêu cùng lúc COD/BOD/pH/oC/Cond/TSS/Color/Flow. Tháng 01/2019, hệ thống quan trắc tự động SmartpH đã được lắp đặt tại Nhà máy Xử lý nước thải KCN Sóng Thần 2, được hiệu chuẩn kiểm định bởi Trung tâm Quan trắc Môi trường miền Nam (Tổng cục Môi Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

42 trường). Tháng 3/2019, hệ thống quan trắc tự động SmartpH cũng được lựa chọn để quan trắc nước thải trực tiếp cho Nhà máy sản xuất ô tô, xe máy điện VinFast tại khu công nghiệp Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng). Không chỉ thế, được thiết kế dạng module, thiết bị quan trắc online cho phép người sử dụng có thể nâng cấp và mở rộng bất kỳ bộ phận nào để đáp ứng nhu cầu công việc. Do đó, khách hàng sẽ không phải tốn chi phí thay thiết bị để cập nhật công nghệ mà chỉ cần nâng cấp từng bộ phân theo nhu cầu, thời điểm thích hợp. Đây cũng là ưu điểm vượt trội nhất của loại thiết bị so với các thiết bị loại cũ. Điển hình là Công ty TNHH British American Tobacco Việt Nam đã lắp đặt mở rộng thêm thiết bị quan trắc bụi PM2.5 theo chỉ số AQI. Trong đó, bộ hiển thị nồng độ bụi đa điểm SmartpH-06PM có khả năng đo được 6 vị trí cùng lúc. Về tổng thể, hệ thống quan trắc tự động SmartpH bao gồm tủ quan trắc được gắn các đầu đo chỉ tiêu lắp bên trong bể nước chảy tràn được bơm vào từ nơi xả thải. Giá trị đo hiển thị trên màn hình có ngõ ra kết nối với 1 datalogger truyền số liệu quan trắc về máy chủ của Sở Tài nguyên và Môi trường. Thiết bị lấy mẫu tự động kết nối với đường nước trong bể đo, khi thông số nước thải truyền về Sở Tài nguyên và Môi trường có dấu hiệu bất thường, nhân sự theo dõi sẽ lấy mẫu và niêm phong mẫu nước thải từ xa thông qua thiết bị lấy mẫu tự động. Ngoài ra có 1 hệ thống camera sẽ theo dõi vị trí lấy mẫu, tủ quan trắc nước thải và tủ lấy mẫu, để giám sát việc đo lường quan trắc. Hệ thống quan trắc tự động SmartpH do Công ty Cổ phần Khoa học Kỹ thuật Phượng Hải cung cấp ứng dụng những công nghệ và thiết bị hiện đại nên có độ chính xác và độ bền rất cao; chi phí vận hành và bảo trì thấp; đơn giản trong lắp đặt, kết nối và vận hành. Nguồn: Kim Hoàn, techport.vn, 18/06/2019 Nghiên cứu ứng dụng nghiệp vụ mô hình bất thủy tĩnh để nâng cao chất lượng dự báo thời tiết cho khu vực Việt Nam Hiện nay, độ phân giải ngang của các mô hình khu vực ứng dụng trong nghiệp vụ tại Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương chỉ phổ biến từ 15-17km. Như vậy có thể thấy việc tiếp tục ứng dụng các mô hình khu vực vẫn là chìa khóa để tăng độ chi tiết từ các sản phẩm dự báo toàn cầu. Bên cạnh đó, với nhu cầu tăng mức độ chi tiết hơn nữa trong các bản tin phục vụ dự báo khí tượng, thủy văn và hải văn, độ phân giải trong các mô hình khu vực sẽ cần thiết phải hạ quy mô xuống từ cận dưới quy mô vừa 5-7km đến quy mô đối lưu dưới 2km trong thời gian tới. Căn cứ vào tính cấp thiết của việc tiếp tục ứng dụng mô hình bất thủy tĩnh phân giải cao trong bài toán dự báo nghiệp vụ. Nhóm nghiên cứu do Cơ quan chủ trì đề tài Trung tâm khí tượng Thủy văn Quốc gia phối hợp Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

43 với Chủ nhiệm đề tài Th.S Dư Đức Tiến cùng thực hiện đề tài Nghiên cứu ứng dụng nghiệp vụ mô hình bất thủy tĩnh để nâng cao chất lượng dự báo thời tiết cho khu vực Việt Nam. Dựa trên các kết quả thử nghiệm và đánh giá dự báo, mô phỏng bằng các mô hình khu vực bất thủy tĩnh phân giải cao, đề tài rút ra một số kết luận chính như sau: 1) Ảnh hưởng của mô hình bất thủy tĩnh tới dự báo thời tiết giai đoạn : + Đối với điều kiện thời tiết thông thường: thông quan việc đánh giá 3 biến khí tượng bề mặt cơ bản gồm nhiệt độ mực 2m, gió mực 10m và mưa tích lũy ngày, các kết quả đánh giá từ năm giữa chế độ chạy mô hình thủy tĩnh và bất thủy tĩnh với cùng độ phân giải là 15km cho thấy đối với nhiệt độ tt có sự khác biệt. Chế độ gió và mưa có sự sai khác rõ rệt tập trung chủ yếu vào mùa hè, cụ thể gió mực 10m có sai số giảm tập trung lớn ở khu vực Trung Trung Bộ còn lượng mưa dự báo ngày giảm đặc biệt tại khu vực Tây Nguyên. Các vị trí giảm sai số ở mô hình bất thủy tĩnh đều liên quan trực tiếp đến các khu vực có địa hình phức tạp. + Đối với dự báo mưa lớn, thông qua đánh giá dự báo mưa từ mô hình WRF-ARW ở hai chế độ thủy tĩnh (WRF-ARW-TT- 15km) và bất thủy tĩnh (WRF-ARW-BTT- 15km) cho thấy ở ngưỡng mưa dưới 50mm/24h ít có sự khác biệt giữa hai lựa chọn này cho mô hình WRF-ARW ở độ phân giải 15km, tuy nhiên ở các ngưỡng mưa từ mm và lớn hơn 100mm có sự cải thiện ở chế độ bất thủy tĩnh. Khi hạ độ phân giải xuống 5km (WRF-ARW-BTT-5km), sai số ở các ngưỡng mưa lớn hơn 100mm được cải thiện so với ở dự báo 15km tại cả hai chế độ thủy tĩnh và bất thủy tĩnh cho các hạn 48h và 72h. Điều này cho thấy chế độ bất thủy tĩnh được thể hiện rõ rệt trong các dự báo phân giải cao và có khả năng giảm thiểu sai số trong các trường hợp mưa cực trị lớn. + Đối với dự báo không khí lạnh và nắng nóng, ở cùng độ phân giải 15km, chế độ bất thủy tĩnh không cải thiện được dự báo nhiệt độ nói chung và hai hiện tượng không khí lạnh và nắng nóng, tuy nhiên từ các thử nghiệm dự báo phân giải cao từ 3-5km cho thấy rõ được vai trò của mô hình bất thủy tĩnh phân giải cao ảnh hưởng đến chất lượng dự báo không khí lạnh và nắng nóng đánh giá gián tiếp thông qua chế độ nhiệt bề mặt. 2) Vấn đề lựa chọn vật lý mô hình và độ phân giải cao trong dự báo mưa lớn + Đã thử nghiệm tổ hợp các sơ đồ vật lý khác nhau trong mô hình WRF-ARW (gồm sơ đồ đối lưu, sơ đồ vi vật lý mây và sơ đồ bức xạ trong khí quyển) và mổ phỏng cho 30 đợt mưa lớn trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam từ trong đó điều kiện biên tái phân tích được sử dụng để cô lập ảnh hưởng của sai số điều kiện biên, qua đó xem xét độ nhạy của các sơ đồ tham số hóa vật lý trong mô hình đến kết quả dự báo mưa lớn. Kết quả cho thấy sơ đồ đối lưu Kain-Friscth thể hiện rõ ưu điểm thông qua hầu hết các chỉ số đánh giá so với sơ đồ đối lưu BMJ. Sự kết hợp giữa sơ đồ Kain-Fristch với sơ đồ vi vật lý mấy WSM (3 hoặc 5 hoặc 6 lớp) và sơ đồ bức xạ Dudhia cũng cho kết quả mô phỏng có kĩ năng nhất so với các tổ hợp còn lại. + Những kết quả đánh giá dự báo ở các hạn dài (2-3 ngày) cho thấy sự khác biệt giữa kết quả của các tổ hợp vật lý không nhiều so với hạn 24h (dao động của chỉ số ETS ở hạn 24h ~ 0.1 đến 0.15; hạn 48h ~ 0.05 đến 0.8; hạn 72h dưới 0.05). Điều này có nghĩa, đối với bài toán dự báo mưa lớn ở các hạn sau 24h cần phải tiếp tục khảo sát liên quan đến vấn đề động lực của mô hình khu vực và độ chính xác của điều kiện biên điều khiển. Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

44 3) Vấn đề giữa các mô hình khu vực: + Đề tài đã thực hiện dự báo 13 đợt mưa lớn năm 2014 bằng 5 mô hình khu vực phân giải cao gồm COSMO (7km), WRF- ARW (5km hạ quy mô từ 15km), WRF-NMM (5km hạ quy mô từ 15km), Moloch (5km, hạ qua môbolam 15km) và NHM (5km hạ quy mô từ 15km. Những kết quả đánh giá sai số giữa các mô hình tại hạn 24h, 48h và 72h cho thấy ở độ phân giải cao (5km), mô hình NHM cho kết quả tốt nhất tại hai hạn 24h và 72h với sai số ổn định hơn so với các mô hình còn lại. Đánh giá cho 3 hệ thống mô hình NHM, WRF-ARW và WRF-NMM khi hạ độ phân giải thì sai số giảm đi ở đa số các hạn sau 1 ngày. Ngoài ra, về cơ bản chưa thấy khả năng giảm sai số ở hạn 24h khi hạ độ phân giải và khá tương đồng với kết quả đã thử nghiệm về vai trò của độ phân giải với mô hình WRF- ARW. Điều này cho thấy tính phức tạp của bài toán hạ quy mô phù hợp với từng khu vực, khí hậu địa phương cần áp dụng. 4) Khả năng tăng cường mô phỏng và dự báo cho các hiện tượng thời tiết nguy hiểm ở độ phân giải cao dưới 5km: + Một số thử nghiệm tăng độ phân giải xuống 2-3km để đánh giá khả năng mô phỏng và dự báo hiện tượng dông và xoáy thuận nhiệt đới đã được thực hiện trong năm 2015 và Kết quả cho thấy khả năng cung cấp dự báo các hiện tượng quy mô đối lưu như dông và cấu trúc chi tiết của xoáy thuận nhiệt đới được miêu tả chi tiết hơn và rõ hơn trong ở độ phân giải 2-3km. Do hạn chế về mặt tính toán (thử nghiệm ở độ phân giải 2-3km với 50 mực thẳng đứng cần 15-20h tích phân thực tế trên hệ thống hiện tại của Trung tâm DBKTTVTƯ cho dự báo hạn 24h) nên cần thực hiện bổ sung các mẫu dự báo các hiện tượng quy mô nhỏ trong tương lai, qua đó đánh giá định lượng được hiệu quả của các mô hình chạy ở quy mô đối lưu (2-3km hoặc dưới 2km). + Thông qua chỉ số dự báo dông Kindex, các thử nghiệm trong những trường hợp có dông tại khu vực Hà Nội, Vinh và Đà Nẵng cho thấy tăng được hệ số tượng quan với quan trắc trong dự báo ở chế độ bất thủy tĩnh và bất thủy tĩnh phân giải cao (2/3 số trạm đánh giá). Mức độ tương quan giữa quan trắc và dự báo khoảng khi xét trên toàn tập mẫu. Chỉ có sự khác biệt trong mẫu có dông giữa bất thủy tĩnh và thủy tĩnh, tuy nhiên giữa bất thủy tĩnh và bất thủy tĩnh-phân giải cao (hạ quy mô động lực không có tương tác 2 chiều) ít có sự khác biệt. + Trong bài toán dự báo bão và xoáy thuận nhiệt đới, các kết quả đánh giá dự báo quỹ đạo và cường độ bão từ năm giữa mô hình toàn cầu GFS và mô hình WRF- ARW ở hai chế độ thủy tĩnh và bất thủy tĩnh cho thấy: trong các hạn 24h và 48h không có sự cải thiện về sai số quỹ đạo nhưng sai số cường độ được giảm đi ở chế độ bất thủy tĩnh so với thủy tĩnh. Khi sử dụng hệ thống lưới lồng hạ xuống độ phân giải 5km từ sản phẩm 15km (bất thủy tĩnh), sai số cường độ vẫn tiếp tục có khả năng được cải thiện từ 1-2m/s (trung bình tuyệt đối) so với ở độ phân giải 15km trong các năm thử nghiệm. 5) Vấn đề đồng hóa số liệu: + Đã kế thừa hệ thống đồng hóa số liệu WRFDA từ đề tài cấp NN do TS Bùi Minh Tăng làm chủ nhiệm trong việc đồng hóa số liệu địa phương tại Việt Nam và số liệu radar Doppler Đông Hà. Ngoài ra đề tài đã thử nghiệm bổ sung xử lý và đồng hóa thêm số liệu gió hướng tâm từ các quan trắc radar Doppler (Đông Hà, Tam Kỳ). + Đã tiếp nhận, thiết lập và thử nghiệm hệ thống đồng hóa động lực giảm dư Nudging số liệu radar cho hệ thống mô hình COSMO Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

45 từ Tổng Cục khí tượng Đức, qua đó lần đầu tiên tận dụng được số liệu quan trắc từ các loại radar thế hệ cũ (chỉ cung cấp độ phản hồi tại các góc quét đơn) cho bài toán đồng hóa số liệu vào các mô hình khu vực tại Việt Nam + Đồng bộ hóa toàn bộ các loại số liệu quan trắc về định dạng bufr để sử dụng thống nhất trong cả hệ thống đồng hóa WRFDA và Nudging. + Thử nghiệm trong nghiệp vụ hệ thống đồng hóa biến phân WRFDA cho mô hình WRF-ARW cho thấy chưa có sự khác biệt thực sự khi sử dụng số liệu bề mặt của Việt Nam mặc dù sự thay đổi của trường ban đầu có thể lan lên các mực đến 500hPa trong mô hình trong các tháng mùa hè. + Đối với số liệu radar, các kết quả khảo sát với hệ thống COSMO sử dụng số liệu radar phía Bắc hoặc mô hình WRF-ARW đồng hóa số liệu Đông Hà cho thấy dự báo mưa của mô hình khá nhạy với sự thay đổi do đồng hóa radar mang lại và có thể ảnh hưởng đến thời hạn 48h dự báo. 6) Phương pháp thống kê sau mô hình: Đề tài đã kế thừa và áp dụng phương pháp UMOS cho mô hình WRF-ARW ở hai chế độ thủy tĩnh và bất thủy tĩnh trong việc dự báo pha xảy ra mưa ở các ngưỡng khác nhau. Việc hiệu chỉnh sản phẩm dự báo từ mô hình khu vực WRF-ARW cho thấy khả năng hiệu chỉnh rất cao của phương pháp UMOS thay vì sử dụng trực tiếp dự báo của mô hình WRF và ở chế độ bất thủy tĩnh khả năng hiệu chỉnh cũng được tăng lên. Ở cấp mưa nhỏ và vừa, chế độ bất thủy tĩnh sau khi hiệu chỉnh UMOS cho kết quả tốt nhất trong khi ở các ngưỡng cao hơn mặc dù có cải thiện so với trực tiếp từ mô hình nhưng hiệu chỉnh UMOS của WRF-ARW-TT vẫn tốt hơn. 7) Vấn đề năng lực máy tính và đề xuất thực hiện thử nghiệm nghiệp vụ + Năng lực tính toán hiện tại chỉ đáp ứng cho việc thực hiện dự báo hạn 72h ở độ phân giải từ 12km-15km chạy trong thời gian thực (thực hiện hoàn thành trong khoảng 45p- 60p) nên khả năng áp dụng các mô hình phân giải cao từ 5km đến 7km là hạn chế. Một trong những hạn chế chính của hệ thống tính toán hiện tại chính là tốc độ kết nối giữa các node tính toán với nhau (vẫn sử dụng công nghệ cũ, tốc độ tính toán giữa các node sử dụng kết nối ethernet ~ 1Gb so với hiện nay đã tiến đến Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương 52 khái niệm băng thông không giới hạn - infiniband ~ 40Gb) nên không thể tăng số cpu cho bài toán mô phỏng (càng tăng sẽ càng làm chậm tính toán đi). + Với năng lực nêu trên, chỉ có thể thực hiện từ 1-2 ốp dự báo ở độ phân giải cao và có độ trễ so với các sản phẩm toàn cầu từ 6h-10h và hạn dự báo đề xuất từ 48h cộng thêm thời gian trễ do tốc độ tính toán chưa đảm bảo (thiết lập dự báo đến 60h hoặc 72h và loại bỏ đi 12h đầu tiên để dự báo viên có thể tham khảo thêm sản phẩm phân giải cao). + Căn cứ vào thời gian tính toán và thời gian thu nhận các loại số liệu điều kiện biên khác nhau, Đề tài đã đưa vào thử nghiệm nghiệp vụ 02 mô hình: i) WRF-ARW chạy ở chế độ bất thủy tĩnh phân giải 15km bao phủ toàn bộ Việt Nam và Biển Đông và độ phân giải cao 5km bao phủ toàn bộ Việt Nam (ngày chạy 01 ốp dự báo 12z), ii) COSMO ở chế độ bất thủy tĩnh phân giải 7km bao phủ toàn bộ Việt Nam và Biển Đông (ngày chạy 01 ốp dự báo 12z). Nguồn: Đ.T.V (NASATI), vista.gov.vn, 01/07/2019 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

46 LĨNH VỰC KHÁC Tạp chí đầu tiên của Việt Nam được SCImago xếp hạng Q1 về lĩnh vực Vật liệu Sau 3 năm xuất bản, mới đây, tạp chí Journal of Science: Advanced Materials and Devices (JSAMD) của ĐH Quốc gia Hà Nội lần đầu tiên đã được SCImago xếp hạng - GS.TS Nguyễn Hữu Đức, nguyên Phó giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội, Tổng biên tập JSAMD, cho biết. Trong đó, 2 lĩnh vực Vật liệu composite và Vật liệu từ, điện tử, quang được xếp nhóm Q1; còn 2 lĩnh vực Khoa học vật liệu và Vật liệu sinh học được xếp nhóm Q2. SCImago (trụ sở ở Tây Ban Nha) là một tổ chức nghiên cứu làm nhiệm vụ cung cấp thông tin về chất lượng nghiên cứu khoa học của các quốc gia, các cơ sở nghiên cứu, mức độ uy tín của các tạp chí thông qua việc phân tích các chỉ số dựa trên cơ sở dữ liệu Scopus do Nhà xuất bản Elsevier, Hà Lan, xây dựng từ năm SCImago xếp hạng chất lượng tạp chí bằng chỉ số SJR (SCImago Journal Ranking), trong đó tính đến số lượng trích dẫn mà mỗi tạp chí nhận được và uy tín của các tạp chí trích dẫn lại tạp chí đó. Chỉ số này được SCImago phát triển từ thuật toán xếp hạng trang web của Google (Google PageRank). Dựa trên chỉ số SJR, các tạp chí được phân thành 4 nhóm Q1, Q2, Q3, Q4 theo các chủ đề nghiên cứu, trong đó Q1 bao gồm 25% các tạp chí hàng đầu. Chỉ số SJR có thể biến đổi, phụ thuộc vào kết quả đánh giá hàng năm. Thông tin trên website của SCImago cho thấy, chỉ số SJR năm 2018 của JSAMD là 0,72. Trong 2 năm , trung bình mỗi bài báo trên JSAMD được trích dẫn 3,357 lần, so với 1,565 lần trong 2 năm Năm 2018, có 94 bài báo trên JSAMD được trích dẫn, trên tổng số 130 bài, với số lần là 433, so với 108 lần của năm Tính đến nay, JSAMD là tạp chí đầu tiên của Việt Nam được SCImago xếp hạng Q1 về lĩnh vực Vật liệu. Trước đó, năm 2014, tạp chí Advances in Natural Sciences: Nanoscience and Nanotechnology (ANSN) của Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam được xếp hạng Q1 về lĩnh vực Kỹ thuật công nghiệp và sản xuất. Năm nay, ngoài lĩnh vực này, ANSN có thêm lĩnh vực Kỹ thuật điện và điện tử được xếp hạng Q1. JSAMD xuất bản 4 kỳ/năm, mỗi kỳ dày khoảng 120 trang, với hội đồng biên tập gồm 31 nhà khoa học uy tín, trong đó có 23 nhà khoa học nước ngoài, và được cố vấn bởi GS S. Bland - Tổng biên tập Tạp chí Materials Today (IF= ). JSAMD ra số đầu tiên vào tháng 3/2016, và đã được đưa vào hệ thống danh mục Web of Science và Scopus. Tạp chí được phát hành trên hệ thống Science Direct của Nhà xuất bản Elsevier. GS.TS Phan Mạnh Hưởng - giảng viên Đại học Nam Florida (Mỹ), Trưởng ban biên tập JSAMD, cho biết, Thời gian từ khi nhận bài, phản biện đến chấp nhận đăng bài trên tạp chí là khoảng một tháng rưỡi; riêng đối với những nghiên cứu mới có tính đột phá, nổi bật, thời gian được rút xuống còn 2 đến 3 Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

47 tuần. Thông thường, thời gian để một bài báo được chấp nhận và đăng online là từ một tháng rưỡi đến 3 tháng. Ứng dụng tiến bộ khoa học trong khai thác xa bờ Nguồn: Thái Thanh, khoahocphattrien.vn, 26/06/2019 Các đại biểu tham quan các thiết bị hàng hải. Ngày 19/6, tại Quảng Ngãi, Trung tâm Khuyến nông quốc gia phối hợp với Sở NN&PTNT Quảng Ngãi tổ chức diễn đàn Khuyến nông nghiệp với chủ đề ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) trong khai thác và bảo quản sản phẩm trên tàu khai thác xa bờ. Ông Phạm Ngọc Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Khai thác thủy sản (Tổng cục Thủy sản) cho biết, từ đội tàu thủ công lạc hậu, đến nay cả nước đã có trên tàu cá xa bờ. Tuy nhiên, nhìn chung lĩnh vực khai thác hải sản vẫn mang nặng tính thủ công, nhiều khâu trong sản xuất vẫn phải sử dụng lao động trực tiếp, năng suất lao động thấp, tổn thất sau thu hoạch lớn (từ 20-30%). Kết quả điều tra cho thấy, các tàu khai thác hải sản xa bờ lắp máy cũ chiếm tới 88,6% tổng số tàu khai thác xa bờ. Do máy cũ lại sai công năng sử dụng, nên các loại máy này độ bền thường thấp, hay bị hỏng hóc bất thường, ảnh hưởng đến độ an toàn và hiệu quả chuyến biển. Trang bị khai thác chưa đầy đủ nên hạn chế hiệu quả khai thác và an toàn sản xuất Để nâng cao hiệu quả trong khai thác hải sản, đảm bảo an toàn cho người và phương tiện hoạt động trên biển tàu thuyền phải được thiết kế hợp lý, vật liệu đóng tàu phải đáp ứng môi trường làm việc khắc nghiệt, cơ giới hóa các khâu sản xuất, thiết bị bảo quản phải đáp ứng được yêu cầu bảo quản sản phẩm dài ngày trên biển. Từ năm 2013 đến nay, Bộ NN&PTNT đã và đang triển khai dự án Movimar gắn các thiết bị thu tín hiệu từ vệ tinh cho tàu cá. Tàu cá gắn thiết bị này sẽ nhận được thông tin dự báo thời tiết, dự báo ngư trường, tự động báo vị trí tàu về bờ 2 giờ/lần; các thông tin hướng dẫn tránh trú bão và các thông tin quan trọng khác từ các cơ quan quản lý thủy sản trong bờ Tại diễn đàn, nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học và công nghệ khai thác thủy sản (Trường đại học Nha Trang) cho biết, đã ứng dụng phần mềm trong thiết kế vỏ tàu và một số kỹ thuật mới trong thi công, chế tạo tàu vỏ thép, composite đảm bảo tăng độ bền, tiết kiệm vật liệu. Các loại máy móc, thiết bị cơ giới hóa quá trình đánh bắt tiếp tục được ứng dụng, chuyển giao, như: Máy thu lưới vây tang treo, máy thu-thả câu cá ngừ đại dương của nghề câu tay kết hợp ánh sáng tại Bình Định Các thiết bị điện tử hàng hải như máy đo sâu-dò cá, máy định vị, máy thông tin liên lạc đã được sử dụng phổ biến trên tàu cá trong khu vực. Một số thiết bị điện, điện tử hiện đại như máy dò cá ngang, ra đa, máy thông tin liên lạc đa chức năng, máy đo dòng Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

48 chảy, điện thoại vệ tinh, máy nhận dạng tự động AIS đảm bảo an toàn cho người và tàu trên biển đã được lắp đặt trên một số tàu cá hoạt động xa bờ. Thiết bị giám sát tàu cá như Movimar, Zunibal, Blue Tracker cũng được lắp đặt nhằm nỗ lực gỡ thẻ Vàng của EC. Ông Kim Văn Tiêu, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia đề nghị các cơ quan chuyển giao, các trung tâm khuyến nông các tỉnh, hiệp hội triển khai nhanh xây dựng các mô hình khai thác, bảo quản có hiệu quả cao; tiếp tục đào tạo ngư dân theo hướng cầm tay chỉ việc và tập trung tuyên truyền cho nhiều người biết. Đối với ngư dân, cần mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong khai thác, chế biến và bảo quản sản phẩm trên tàu để nâng cao hiệu quả trong khai thác, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới; chấp hành các quy định trong khai thác, không vi phạm pháp luật góp phần bảo vệ an ninh biển đảo và gỡ thẻ Vàng EU. Nguồn: Lưu Hương, baochinhphu.vn, 19/06/2019 Nghiên cứu phát triển loại hình vận tải hành khách công cộng bằng đường thủy trên địa bàn TP.HCM Đề tài do tác giả Vương Tấn Đức và cộng sự (Trung tâm Nghiên cứu phát triển Đô thị và Giao thông vận tải) thực hiện nhằm nghiên cứu đề xuất phát triển và đưa vào khai thác loại hình vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) bằng đường thủy nội địa, góp phần phát triển một loại hình giao thông công cộng mới trên địa bàn TP.HCM, phục vụ lợi ích cho người dân, đáp ứng yêu cầu phát triển giao thông đô thị bền vững. Theo Quyết định 66/QĐ-UBND ngày 14/9/2009 của UBND TP.HCM phê duyệt Quy hoạch mạng lưới đường thủy và cảng bến TP.HCM đến năm 2020 trên địa bàn thành phố có 112 tuyến sông, kênh, rạch với tổng chiều dài gần km có thể khai thác vận tải, tạo thành mạng lưới đi qua hầu hết các quận, huyện với rất nhiều tiềm năng phát triển vận tải thủy. Việc bố trí các tuyến VTHKCC bằng thủy hợp lý trên một số tuyến trong khu vực đô thị sẽ rút ngắn thời gian đi lại so với đường bộ, góp phần hỗ trợ cho giao thông đường bộ. Ngoài ra, việc kết hợp giữa sự phát triển VTHKCC bằng đường thủy và du lịch trên sông còn là cơ hội tạo ra giá trị gia tăng cho hoạt động du lịch và các sinh hoạt cộng đồng khác, góp phần tạo lập diện mạo mới cho bộ mặt cảnh quan đô thị. Tuy nhiên, để phát triển loại hình mới mẻ này trong khu vực đô thị, cần phải có một nghiên cứu tổng thể và toàn diện. Trong đề tài này, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát, điều tra nhu cầu đi lại của người dân đối với việc sử dụng loại hình VTHKCC bằng đường thủy; dự báo nhu cầu sử dụng loại hình VTHKCC bằng đường thủy của người dân trên địa bàn thành phố; phân tích và đánh giá hiện trạng kỹ thuật luồng tuyến trên góc độ tổ chức khai thác VTHKCC bằng đường thủy bao gồm các thông số thủy vận, các công trình vượt sông, chế độ thủy triều; nghiên cứu đề xuất mạng lưới tuyến và tổ chức khai thác VTHKCC bằng đường thủy trên địa bàn TP.HCM; Kết quả, thông qua số liệu hơn phiếu Điều tra phỏng vấn người dân về khả năng sử dụng VTHKCC bằng đường thủy, Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54

49 nhóm nghiên cứu có những nhận định về nhu cầu tiềm năng của người dân về sử dung loại hình VTHKCC bằng đường thủy, làm cơ sở cho công tác dự báo nhu cầu và xây dựng mạng lưới luồng tuyến VTHKCC bằng đường thủy. Với 22 chuyên đề nghiên cứu các nội dung chính của đề tài đã được giải quyết. Cụ thể, về mạng lưới tuyến VTHKCC bằng đường thủy, qua phân tích khả năng thủy vận luồng tuyến và nhu cầu hành khách tiểm năng đường thủy trên các hành lang, nhóm đề xuất 16 tuyến VTHKCC đường thủy. Về hệ thống bến đầu cuối và bến đón trả khách, đề xuất mô hình bến đầu cuối và đón trả khách trên các tuyến VTHKCC đường thủy phù hợp với thực tiễn khai thác giao thông thủy và đảm bảo mỹ quan đô thị. Về phương tiện, đã lựa chọn chủng loại, sức chứa của tàu phù hợp với điều kiện khai thác trên các loại hình tuyến VTHKCC đường thủy. Về hiệu quả phát triển VTHKCC đường thủy, chứng minh được đầu tư phát triển VTHKCC bằng đường thủy có thể mang lại hiệu quả mà không cần nguồn trợ giá từ ngân sách với điều kiện UBND thành phố cho phép nhà đầu tư được phép kinh doanh các dịch vụ hỗ trợ. Qua đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các đề xuất về cơ chế, chính sách phát triển loại hình VTHKCC bằng đường thủy giúp cho UBND thành phố có cơ sở để chỉ đạo, quản lý và xây dựng phương án khai thác VTHKCC đường thủy. Cụ thể là các kiến nghị chi tiết về công tác quy hoạch luồng tuyến, bến bãi và kết nối giao thông; luồng tuyến và vấn đề ô nhiễm sông, kênh rạch; về bến trung tâm Bạch Đằng; về phương tiện; cơ chế hỗ trợ phát triển VTHKCC bằng đường thủy; quy trình và hình thức đầu tư; xây dựng các quy trình, quy định trong quản lý khai thác; thông tin quảng bá và kết hợp với du lịch trên sông. Thông qua kết quả của đề tài, đã hỗ trợ một số đơn vị áp dụng đưa loại hình này vào khai thác. Cụ thể như Công ty TNHH Thường Nhật nghiên cứu khai thác tuyến Bạch Đằng Linh Đông, Bạch Đằng Lò Gốm; Công ty TNHH Thương mại và XNK Đại Cát nghiên cứu khai thác tuyến Kênh Tẻ - Kênh Đôi, Tân Hóa Lò Gốm và kênh Nhiêu Lộc Thị Nghè; Hợp tác xã Long Hòa nghiên cứu khai thác tuyến du lịch Cần Thạnh Thạnh An Long Hòa. Nguồn: Lam Vân, cesti.gov.vn, 14/06/2019 Việt Nam gặt hái thành công lớn tại Triển lãm Quốc tế về Sáng chế của phụ nữ Đoàn Việt Nam chụp ảnh lưu niệm tại gian hàng Trung tâm Ứng dụng KHCN và Khởi nghiệp thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam đã hỗ trợ 06 nhà khoa học nữ tham dự Triển lãm và Diễn đàn Quốc tế về sáng chế của phụ nữ lần thứ 12 (KIWIE 2019). Triển lãm được tổ chức tại Hàn Quốc từ ngày 20-25/6/2019 do Hội Nữ sáng chế Hàn Quốc (KWIA) tổ chức với sự hỗ trợ của Văn phòng Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc (KIPO), Bản tin Thành tựu KHCN Việt Nam Số 07/ /54