Tổng quan về Dinh dưỡng và Dinh dưỡng học trên Thế giới

Kích thước: px
Bắt đầu hiển thị từ trang:

Download "Tổng quan về Dinh dưỡng và Dinh dưỡng học trên Thế giới"

Bản ghi

1 Hỗ trợ bởi nguồn kinh phí đào tạo không giới hạn từ Thực hành dinh dưỡng nhi khoa

2 Tổng quan về Dinh dưỡng và Dinh dưỡng học trên Thế giới Tập. 113 Series Editor Berthold Koletzko Munich

3 Thực Hành Dinh Dưỡng Nhi Khoa Ấn bản thứ 2 có chỉnh sửa Volume Editor Berthold Koletzko Munich Co-Editors Jatinder Bhatia Augusta, Ga. Zulfiqar A. Bhutta Karachi Peter Cooper Johannesburg Maria Makrides North Adelaide, S.A. Ricardo Uauy Santiago de Chile Weiping Wang Shanghai 60 hình ảnh, 27 ảnh màu, và 107 bảng, 2015 Basel Freiburg Paris London New York Chennai New Delhi Bangkok Beijing Shanghai Tokyo Kuala Lumpur Singapore Sydney

4 Berthold Koletzko Bộ môn Chuyển hóa và Dinh dưỡng Nhi khoa Trung tâm Y tế Bệnh viện Nhi Dr. von Hauner Ludwig-Maximilians-University of Munich Lindwurmstr. 4 DE Munich (Đức) Library of Congress Cataloging-in-Publication Data Jatinder Bhatia Bộ môn sơ sinh Đại học sức khỏe Georgia Regents th Street BIW 6033 Augusta, GA (Hoa Kì) Peter Cooper Khoa Nhi Đại học Witwatersrand và Bệnh viện Hàn lâm Charlotte Maxeke Johannesburg Private Bag X39 Johannesburg 2000 (Nam Phi) Thực hành Dinh dưỡng Nhi khoa / biên tập, Berthold Koletzko ; đồng biên tập, Jatinder Bhatia, Zulfiqar A. Bhutta, Peter Cooper, Maria Makrides, S.A. Ricardo Uauy, Weiping Wang. ấn bản thứ 2 có chỉnh sửa. p. ; cm. -- (Tổng quan về Dinh dưỡng và Dinh dưỡng học trên Thế giới ; tập 113) Bao gồm tài liệu tham khảo và mục lục.. ISBN (bìa cứng : alk. paper) -- ISBN (phiên bản điện tử) I. Koletzko, B. (Berthold), biên tập. II. Tổng quan về Dinh dưỡng và Dinh dưỡng học trên Thế giới ; tập 113 [DNLM: 1. Hiện tượng Dinh dưỡng Sinh lý ở Trẻ em. W1 WO898 / WS 130] RJ dc Ricardo Uauy INTA Đại học Chile Casilla Santiago de Chile (Chile) Zulfiqar A. Bhutta Khoa Nhi và Sức khỏe Trẻ em Đại học Aga Khan Karachi (Pakistan) Maria Makrides Viện nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em 72 King William Road North Adelaide, SA 5006 (Australia) Weiping Wang Bệnh viện Nhi Đại học Fudan 399 Rd. Wanyuanlu Thượng Hải (Trung Quốc) Danh mục tài liệu tham khảo. Ấn phẩm này được liệt kê trong các dịch vụ thư mục, gồm Current Contents và PubMed/MEDLINE. Từ chối. Các báo cáo, ý kiến và dữ liệu trong ấn phẩm này là của một mình cá nhân các tác giả và các cộng tác viên và không phải của nhà xuất bản và biên tập viên. Sự xuất hiện của các quảng cáo trong cuốn sách không phải là sự bảo đảm, xác nhận, hoặc ủng hộ các sản phẩm hoặc dịch vụ được quảng cáo hay hiệu lực, chất lượng hoặc an toàn của chúng. Nhà xuất bản và biên tập viên từ chối trách nhiệm cho bất kỳ tổn thương nào cho người hoặc tài sản do bất kỳ ý tưởng, phương pháp, hướng dẫn hoặc sản phẩm nào được đề cập trong nội dung hay các quảng cáo. Liều lượng thuốc. Các tác giả và nhà xuất bản đã đưa ra mọi nỗ lực để đảm bảo rằng việc lựa chọn loại thuốc và liều lượng quy định trong văn bản này là phù hợp với các khuyến cáo và thực hành hiện hành tại thời điểm công bố. Tuy nhiên, theo quan điểm của nghiên cứu liên tục, những thay đổi trong các quy định của chính phủ, và các dòng thông tin liên tục liên quan đến thuốc điều trị và phản ứng thuốc, người đọc được khuyến khích kiểm tra toa thuốc đi kèm với mỗi loại thuốc cho bất kỳ sự thay đổi nào trong các chỉ định và liều lượng và các cảnh báo và thận trọng được thêm vào. Điều này đặc biệt quan trọng khi các thuốc được khuyến cáo là một loại thuốc mới và / hoặc không thường xuyên được sử dụng. Tất cả các quyền được bảo lưu. Không phần nào của ấn phẩm này có thể được dịch sang ngôn ngữ khác, sao chép hoặc sử dụng dưới mọi hình thức hoặc bằng bất kỳ phương tiện điện tử hoặc cơ khí nào, bao gồm cả photocopy, ghi âm, sao chép microfilm, hoặc bởi bất kỳ hệ thống lưu trữ thông tin và phục hồi nào, mà không có sự cho phép bằng văn bản của nhà xuất bản. Bản quyền 2015 bởi Nestec Ltd., Vevey (Switzerland) and S. Karger AG, P.O. Box, CH 4009 Basel (Switzerland) Được in tại Đức trên giấy không có axit và không lão hóa (ISO 9706) by Kraft Druck, Ettlingen ISSN e-issn

5 Nội dung Danh sách cộng tác viên IX Lời nói đầu XIV 1 Các khía cạnh đặc biệt của dinh dưỡng trẻ em 1.1 Sự tăng trưởng của trẻ Kim F. Michaelsen Đánh giá dinh dưỡng Đánh giá lâm sàng và Nhân trắc học John W.L. Puntis Đánh giá lịch sử ăn uống và thức ăn ăn vào Pauline Emmett Sử dụng các phép đo kỹ thuật trong đánh giá dinh dưỡng Babette S. Zemel Virginia A. Stallings Sử dụng các phép đo tại phòng thí nghiệm trong đánh giá dinh dưỡng Ryan W. Himes Robert J. Shulman Nhu cầu dinh dưỡng Giá trị dinh dưỡng ăn vào: Khái niệm và Ứng dụng Berthold Koletzko Yêu cầu dinh dưỡng của trẻ nhũ nhi, trẻ em và thanh thiếu niên Nancy F. Butte Protein Johannes B. van Goudoever Carbohydrate có thể và không thể tiêu hóa Iva Hojsak Chất béo Patricia Mena Ricardo Uauy Dịch và Chất điện giải Esther N. Prince George J. Fuchs Vitamin and Nguyên tố vi lượng Noel W. Solomons Hoạt động thể chất, Sức khỏe và Dinh dưỡng Robert M. Malina

6 1.5 Dinh dưỡng sớm và Sức khỏe lâu dài Berthold Koletzko An toàn thực phẩm Hildegard Przyrembel Sự phát triển đường tiêu hóa, Sự tiêu hóa và hấp thu dinh dưỡng Michael J. Lentze Vi sinh vật đường ruột ở trẻ nhũ nhi Akihito Endo Mimi L.K. Tang Seppo Salminen Dinh dưỡng của Trẻ nhũ nhi, Trẻ em và Thanh thiếu niên khỏe mạnh 2.1 Nuôi ăn bằng sữa mẹ Kim F. Michaelsen Nuôi ăn bằng sữa công thức Berthold Koletzko Sản phẩm thay thế sữa mẹ trên thị trường Neelam Kler Naveen Gupta Anup Thakur Thực phẩm bổ sung Mary Fewtrell Phòng ngừa dị ứng thông qua dinh dưỡng sớm Sibylle Koletzko Trẻ trong độ tuổi chập chững, trước và trong độ tuổi đi học Hildegard Przyrembel Dinh dưỡng thanh thiếu niên Rehana A. Salam Zulfiqar A. Bhutta Dinh dưỡng trong thời kì mang thai và cho con bú Lenka Malek Maria Makrides Chế độ ăn chay Claire T. McEvoy Jayne V. Woodside Thách thức dinh dưỡng trong các tình trạng và bệnh lý đặc biệt 3.1 Suy dinh dưỡng nguyên phát và thứ phát Lubaba Shahrin Mohammod Jobayer Chisti Tahmeed Ahmed Thiếu hụt vi dưỡng chất ở trẻ em Ali Faisal Saleem Zulfiqar A. Bhutta Hỗ trợ dinh dưỡng qua đường ruột Sanja Kolaček Hỗ trợ dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch Berthold Koletzko Quản lý béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên Louise A. Baur Giảm gánh nặng tiêu chảy cấp tính và kéo dài thời thơ ấu Jai K. Das Zulfiqar A. Bhutta

7 3.7 HIV and AIDS Haroon Saloojee Peter Cooper Quản lý dinh dưỡng trong bệnh gan nhiễm mỡ Bram P. Raphael Rối loạn hấp thu kém và Hội chứng ruột ngắn Olivier Goulet Bệnh Celiac Riccardo Troncone Marco Sarno Không dung nạp và dị ứng thuốc Ralf G. Heine Chứng trào ngược và hồi lưu thực quản dạ dày Noam Zevit Raanan Shamir Các vấn đề nuôi ăn thời thơ ấu Maureen M. Black Trẻ nhũ nhi sinh non và nhẹ cân Ekhard E. Ziegler Quản lý dinh dưỡng bệnh đái tháo đường thời thơ ấu Carmel Smart Sai sót chuyển hóa sơ sinh Anita MacDonald Tăng cholesterol máu Berthold Koletzko Dinh dưỡng qua đường ruột cho bệnh viêm ruột nhi khoa Marialena Mouzaki Anne Marie Griffiths Dinh dưỡng trong bệnh xơ nang Michael Wilschanski Bệnh tim Michelle M. Steltzer Terra Lafranchi Quản lý dinh dưỡng ở trẻ suy thận mạn tính Lesley Rees Phục hồi dinh dưỡng trong rối loạn ăn uống Berthold Koletzko Ung thư máu John W.L. Puntis Chăm sóc tăng cường Jessie M. Hulst Koen F.M. Joosten Phụ lục 4.1 Tiêu chuẩn tăng trưởng trẻ em của WHO Mercedes de Onis CDC và biểu đồ tăng trưởng châu Âu Ekhard E. Ziegler

8 4.3 Lượng dinh dưỡng ăn vào tham khảo của trẻ nhũ nhi, trẻ em và thanh thiếu niên Berthold Koletzko Katharina Dokoupil Cho trẻ ăn Lời khuyên cho các gia đình Berthold Koletzko Katharina Dokoupil Tăng năng lượng và nguồn dinh dưỡng từ thức ăn Katharina Dokoupil Berthold Koletzko Đánh giá chế độ ăn uống ở trẻ em Pauline Emmett Mục lục Danh mục tác giả Danh mục chủ đề

9 Danh sách cộng tác viên Tahmeed Ahmed Trung tâm Dinh dưỡng và An ninh Thực phẩm ICDDR, B Bưu điện trung tâm Hộp 128 Dhaka 1000 (Bangladesh) Louise A. Baur Đại học Lâm sàng Bệnh viện Nhi tại Westmead Locked Bag 4001 Westmead, NSW 2145 (Australia) Zulfiqar A. Bhutta Khoa Nhi và Sức khỏe Trẻ em Đại học Aga Khan Karachi (Pakistan) Maureen M. Black Khoa Nhi và Khoa Dịch tễ học và Y tế công cộng Trường Y Đại học Maryland 737 đường W. Lombard, phòng 161 Baltimore, MD (Mỹ) Nancy F. Butte Khoa Nhi Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng trẻ em USDA/ARS Cao đẳng Y Baylor 1100 đường Bates, Houston, TX (Mỹ) Mohammod Jobayer Chisti Bộ phận chăm sóc tăng cường, Bệnh viện và Trung tâm Dinh dưỡng và An ninh thực phẩm Dhaka ICDDR,B Bưu điện trung tâm Hộp 128 Dhaka 1000 (Bangladesh) Peter Cooper Khoa Nhi Đại học Witwatersrand và Bệnh viện Hàn lâm Charlotte Maxeke Johannesburg Private Bag X39 Johannesburg 2000 (Nam Phi) Jai K. Das Bộ môn Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em Đại học Aga Khan Karachi (Pakistan) Mercedes de Onis Khoa Dinh dưỡng Tổ chức Y tế Thế giới Đại lộ Appia 20 CH 1211 Geneva 27 (Thụy Sĩ) Katharina Dokoupil Bộ môn Y học chuyển hóa và Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Dr. von Hauner Trung tâm Y học, Đại học Ludwig-Maximilians, Munich Lindwurmstrasse 4DE Munich (Đức)

10 Pauline Emmett Trung tâm Sức khỏe Trẻ em và Thanh thiếu niên Trường Y học Xã hội và Cộng đồng Đại học Bristol Nhà Oakfield Oakfiled Grove, Clifton BS8 2BN (Vương quốc Anh) Akihito Endo Khoa Thực phẩm và Mỹ phẩm Đại học Nông nghiệp Toky Abashiri, Hokkaido (Nhật Bản) Mary Fewtrell Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng Trẻ em Viện sức khỏe trẻ em UCL 30 đường Guilford London WC1N 1EH (Vương quốc Anh) George J. Fuchs Khoa Nhi tiêu hóa, Gan và Dinh dưỡng Đại học Y khoa of Arkansas 4301 đường West Markham Little Rock, AR (Hoa Kì) Olivier Goulet Bệnh viện Necker Enfants Malades 149 Rue de Sèvres FR Paris Cedex 15 (Pháp) Anne Marie Griffiths Bệnh viên cho Bệnh nhi 555 University Avenue Toronto, ON M5G 1X8 (Canada) Naveen Gupta Khoa sơ sinh Viện sức khỏe trẻ em Bệnh viện Sir Ganga Ram New Delhi (Ấn Độ) Ryan W. Himes Bộ môn Nhi tiêu hóa Bệnh viện Nhi Texas Cao đẳng Y Baylor 6701 Fannin St, CCC Houston, TX (Hoa Kì) Iva Hojsak Bệnh viện Nhi Zagreb Trung tâm Nhi tiêu hóa và Dinh dưỡng Klaićeva 16 HR Zagreb (Croatia) Jessie M. Hulst Khoa Nhi Bệnh viện Nhi Sophia Trung tâm Y khoa Erasmus Bưu điện Hộp 2060 NL 3000 CB Rotterdam (Hà Lan) Koen F. M. Joosten Trung tâm Y khoa Erasmus Bưu điện Hộp 2060 NL 3000 CB Rotterdam (Hà Lan) Neelam Kler Khoa sơ sinh Viện sức khỏe trẻ em Bệnh viện Sir Ganga New Delhi (Ấn Độ) Sanja Kolaček Khoa Nhi Bệnh viện Nhi Zagreb Trung tâm Nhi tiêu hóa và Dinh dưỡng Klaićeva 16 HR Zagreb (Croatia) Berthold Koletzko Bộ môn Y học chuyển hóa và Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Dr. von Hauner Trung tâm Y học, Đại học Ludwig-Maximilians, Munich Lindwurmstrasse 4DE Munich (Đức) Ralf G. Heine Khoa Tiêu hóa và Dinh dưỡng lâm sàng Bệnh viện Nhi đồn g Hoàn g gia Melbourne Đại học Melbourne Parkville, VIC 3052 (Australia) ch.org.au 10

11 Sibylle Koletzko Đại học Munich Bệnh viện Nhi Dr. von Hauner Lindwurmstrasse 4 DE Munich (Đức) Terra Lafranchi Khoa Tim mạch và Trung tâm chăm sóc thai nhi tiên tiến Bệnh viện Nhi Boston 300 Đại lộ Longwood Boston, MA (Hoa Kì) Michael J. Lentze Fichtestr. 3 DE Bonn (Đức) Anita MacDonald Khoa dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Birmingham Steelhouse Lane Birmingham B4 6NH (Vương quốc Anh) Maria Makrides Sức khỏe bà mẹ và Trẻ em Viện Y học và Nghiên cứu Sức khỏe Nam Úc Viện Nghiên cứu sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em 72 King William Road North Adelaide, SA 5006 (Australia) Lenka Malek Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng Trẻ em Trung tâm Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em 72 đường King William North Adelaide, SA 5006 (Australia) Robert M. Malina FM 2668 Bay City, TX (Hoa Kì) Claire T. McEvoy Trung tâm Y tế công cộng Trường Y, Nha và Y sinh học Viện nghiên cứu khoa học lâm sàng Belfast, Đại học Queen B (Tầng 1) đường Grosvenor Belfast BT12 6BJ (Vương quốc Anh) Patricia Mena INTA Đại học Chile Casilla Santiago de Chile (Chile) Kim F. Michaelsen Khoa Dinh dưỡng, Thể dục và Thể thao Khoa Khoa học sự sống Đại học Copenhagen Rolighedsvej 26 DK 1958 Frederiksberg C (Đan Mạch) Marialena Mouzaki Bệnh viên cho Bệnh nhi 555 University Avenue Toronto, ON M5G 1X8 (Canada)) Esther N. Prince Khoa Nhi tiêu hóa, Gan và Dinh dưỡng Đại học Y khoa of Arkansas 4301 đường West Markham Little Rock, AR (Hoa Kì) Hildegard Przyrembel Bolchener Str. 10 DE Berlin (Đức) John W.L. Puntis Văn phòng Nhi khoa Tầng A, Old Main Site Bệnh viện trung tâm tại Leeds Đường Great George Leeds LS1 3EX, West Yorkshire (UK) Bram P. Raphael Bộ môn Tiêu hóa, Gan và Dinh dưỡng Bệnh viện Nhi Boston 300 Đại lộ Longwood Boston, MA (Hoa Kì) Lesley Rees Văn phòng Khoa Thận Bệnh viện Gt Ormond St cho bệnh nhi NHS Trust Đường Gt Ormond London WC1N 3JH (Vương quốc Anh) XI

12 Rehana A. Salam Bộ môn Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em Đại học Aga Khan Stadium Road PO Box 3500 Karachi (Pakistan) Ali Faisal Saleem Bộ môn Sức khỏe Phụ nữ và Trẻ em Đại học Aga Khan Stadium Road PO Box 3500 Karachi (Pakistan) Seppo Salminen Diễn đàn thực phẩm chức năng Khoa Y Đại học Turku FI Turku (Phần Lan) Haroon Saloojee Khoa Nhi và Sức khỏe Trẻ em Đại học Witwatersrand Private Bag X39 Johannesburg 2000 (Nam Phi) Marco Sarno Khoa Y học Khoa học Tịnh tiến Bộ môn Nhi Đại học Federico II Via Sergio Pansini n. 5 IT Naples (Ý) Lubaba Shahrin Bệnh viện và Trung tâm Dinh dưỡng và An ninh Thực Phẩm Dhaka ICDDR, B, Bưu điện trung tâm Hộp 128 Dhaka 1000 (Bangladesh) Raanan Shamir Viện Tiêu hóa, Dinh dưỡng và Bệnh về gan Trung tâm Y khoa Trẻ em Schneider, Israel 14 Kaplan St. Petach-Tikva (Israel) Sackler Khoa Y Đại học Tel Aviv Robert J. Shulman Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng Trẻ em 1100 Đại lộ Bates, CNRC 8072 Houston, TX (Hoa Kì) edu Carmel Smart Bệnh viện Nhi John Hunter Khoa Nhi Nội tiết và Đái tháo đường NSW, Viện nghiên cứu Y khoa Hunter Trường Khoa học Sức khỏe Đại học Newcastle Newcastle, NSW (Australia) Noel W. Solomons CeSSIAM 17a Avenida No , Zona 11 Guatemala City (Guatemala) Virginia A. Stallings Bệnh viện Nhi Philadelphia Bộ môn Tiêu hóa, Gan và Dinh dưỡng 3535 đường Market, phòng 1558 Philadelphia, PA (Hoa Kì) Michelle M. Steltzer 4930 đại lộ North Ardmore Whitefish Bay, Wisconsin (Hoa Kì) Mimi L.K. Tang Khoa Dị ứng và Miễn dịch Bệnh viện Nhi đồng Hoàng gia Melbourne, VIC (Australia) Anup Thakur Khoa sơ sinh Viện sức khỏe trẻ em Bệnh viện Sir Ganga Ram New Delhi (Ấn Độ) 12

13 Ricardo Uauy Khoa Y học Khoa học Tịnh tiến Bộ môn Nhi Đại học Federico II Via Sergio Pansini n. 5 IT Naples (Ý) Johannes B. van Goudoever Bệnh viện Nhi Emma AMC Meibergdreef 9 NL 1105 AZ Amsterdam (Hà Lan) Michael Wilschanski Đơn vị Tiêu hóa và Dinh dưỡng Nhi khoa Bệnh viện Đại học Hadassah Jerusalem (Israel) Jayne V. Woodside Trung tâm Y tế Công cộng Trường Y, Nha và Y sinh học Đại học Queen s Viện khoa học lâm sàng Belfast B (Tầng 1) đường Grosvenor Belfast BT12 6BJ (Vương quốc Anh) Babette S. Zemel Bệnh viện Nhi Philadelphia Bộ môn Tiêu hóa, Gan và dinh dưỡng 3535 đường Market, phòng 1560 Philadelphia, PA (Hoa Kì) Noam Zevit Viện Tiêu hóa, Dinh dưỡng và Bệnh về gan Trung tâm Y khoa Trẻ em Schneider, Israel 14 Kaplan St. Petach-Tikva (Israel) Sackler Khoa Nhi Đại học Aviv Ekhard E. Ziegler Khoa Nhi Đại học Iowa A-136 MTF, 2501 đường Crosspark Coralville, IA (Hoa Kì) XIII

14 Lời nói đầu Không thời điểm nào trong cuộc đời mà việc cung cấp dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng lại có tầm quan trọng lớn hơn trong thời kì nhũ nhi và thơ ấu. Trong giai đoạn năng động này của cuộc sống, được đặc trưng bởi sự tăng trưởng, phát triển nhanh và phát triển mềm dẻo, một lượng đầy đủ và thành phần thích hợp của các cơ chất cả trong sức khỏe và bệnh tật có tầm quan trọng quyết định cho sự tăng trưởng, các kết quả chức năng như nhận thức và đáp ứng miễn dịch, và các lập trình chuyển hóa của sức khỏe và hạnh phúc lâu dài. Trong khi nhiều sách giáo khoa xuất sắc về dinh dưỡng nhi khoa sẵn có cung cấp các báo cáo chi tiết trên cơ sở khoa học và sinh lý học về dinh dưỡng cũng như các ứng dụng của nó trong thực hành lâm sàng, các bác sĩ và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe bận rộn khác thường cảm thấy khó khăn để dành đủ thời gian xây dựng và nghiên cứu sâu rộng các cuốn sách chỉ cho một khía cạnh thực hành của họ. Do đó, chúng tôi phát triển cuốn sách tham khảo nhỏ gọn này với mục đích cung cấp thông tin ngắn gọn để người đọc tìm kiếm sự hướng dẫn nhanh chóng về các vấn đề có liên quan thực tiễn trong chế độ dinh dưỡng của trẻ nhũ nhi, trẻ em và thanh thiếu niên. Ấn bản đầu tiên là một thành công lớn, với hơn bản được bán ra tại Anh, Trung Quốc, Nga và Tây Ban Nha. Do đó, chúng tôi đã chuẩn bị một ấn bản thứ hai được chỉnh sửa kỹ lưỡng và cập nhật với một quan điểm quốc tế thực sự để giải quyết các vấn đề đòi hỏi ở cả các quần thể dân cư giàu có và gặp thách thức về kinh tế trên thế giới. Điều này chỉ có thể đạt được với sự tham gia nhiệt tình của một ban biên tập toàn cầu. Tôi muốn cảm ơn các đồng biên tập rất nhiều cho sự giúp đỡ và hỗ trợ tận tâm của họ trong việc phát triển dự án này cũng như sự hợp tác rất tuyệt vời và thú vị. Tôi cũng rất biết ơn các tác giả từ khắp nơi trên thế giới, những người được công nhận là các chuyên gia trong lĩnh vực của họ, đã cống hiến thời gian, nỗ lực, kiến thức và kinh nghiệm của mình trong việc chuẩn bị các chương. Thật là một niềm hãnh diện lớn lao khi làm việc gần gũi với nhóm tại nhà xuất bản Karger, bao gồm Stephanie König, Tanja Serbuk, Peter Roth và những người khác, những người đã làm một công việc tuyệt vời và thật sự chuyên nghiệp trong việc sản xuất một cuốn sách có chất lượng vượt trội. Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn của tôi đến Viện Dinh dưỡng Nestlé và đại diện của viện Tiến sĩ Natalia Wagemans và Tiến sĩ Jose Saavedra vì đã cung cấp sự hỗ trợ tài chính cho nhà xuất bản để tạo thuận lợi cho việc phổ biến rộng rãi cuốn sách này. Tôi đặc biệt biết ơn Viện Dinh dưỡng Nestlé vì đã hỗ trợ cho các biên tập viên và tác giả trong việc đưa ra lựa chọn hoàn toàn độc lập của mình đối với nội dung và quá trình của cuốn sách và các chương của nó. Niềm hy vọng chân thành của các biên tập viên đó là ấn bản thứ hai của cuốn sách này một lần nữa sẽ có ích cho nhiều chuyên gia chăm sóc sức khỏe trên thế giới, và nó sẽ góp phần tăng cường hơn nữa chất lượng nuôi ăn cho trẻ nhũ nhi và trẻ em khỏe mạnh cũng như cải thiện tiêu chuẩn về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em bị bệnh. Chúng tôi rất mong muốn có được phản hồi về cuốn sách này từ các bạn, người đọc và người sử dụng, bao gồm các đề xuất về những khía cạnh có thể được cải thiện hơn nữa trong các ấn bản tương lai. Xin đừng ngần ngại liên hệ với nhà xuất bản hoặc các biên tập viên với các ý kiến và đề xuất của các bạn. Cảm ơn các bạn rất nhiều, và hãy tận hưởng cuốn sách! Berthold Koletzko, Dr. Dr. h.c. mult., Giáo sư nhi khoa, Munich

15 1 Những vấn đề chuyên biệt về dinh dưỡng trẻ em Koletzko B, et al. (eds): Dinh dưỡng nhi khoa trong thực hành. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 1 5 DOI: / Sự tăng trưởng của trẻ em Kim F. Michaelsen 1 Các từ khóa Cân nặng Chiều cao Chỉ số khối cơ thể Béo phì Thể thấp còi Thể gầy mòn Theo dõi tăng trưởng Yếu tố tăng trưởng giống Insulin 1 hiện đại việc theo dõi cũng quan trọng nhưng thường bị bỏ quên, thay vào đó những xét nghiệm đắt tiền và phức tạp hơn thường được ưa thích. Những thông điệp chính Tăng trưởng là một dấu ấn nhạy của tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng trong suốt thời kỳ thơ ấu Việc theo dõi tăng trưởng quan trọng ở cả trẻ bệnh và trẻ khỏe mạnh Tăng trưởng sớm có liên quan tới tình trạng phát triển, sự khỏe mạnh và niềm hạnh phúc lâu dài của trẻ Trẻ nhũ nhi bú sữa mẹ có tốc độ tăng trưởng chậm hơn trong thời kỳ nhũ nhi nhưng thường sẽ có những tác động có lợi lâu dài S. Karger AG, Basel Giới thiệu Sự tăng trưởng là một điểm đặc trưng của tuổi ấu thơ; đây cũng là một chỉ dấu nhạy về tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Những sai lệch trong tăng trưởng, đặc biệt là sự chậm tăng trưởng, cũng như tích tụ chất béo dư thừa điển hình của bệnh béo phì, đều có liên quan với nguy cơ cao bị mắc bệnh trong thời gian gần cũng như sau này. Do đó, theo dõi tăng trưởng là một công cụ quan trọng để đánh giá sự khỏe mạnh của trẻ, đặc biệt ở những quốc gia bị hạn chế tiếp cận với những công cụ chẩn đoán khác. Ở những cơ sở lâm sàng Tăng trưởng ở trẻ khỏe mạnh Sự tăng trưởng trong giai đoạn đầu đời có thể được chia thành các giai đoạn: bào thai, nhũ nhi, ấu thơ và thiếu niên. Mỗi giai đoạn có một kiểu mẫu đặc trưng và các cơ chế cụ thể để điều chỉnh sự tăng trưởng (Hình 1) [1]. Dinh dưỡng, mang ý nghĩa cả về năng lượng cũng như các chất dinh dưỡng thiết yếu đặc biệt, tạo ra tác động điều hòa mạnh mẽ trong giai đoạn đầu đời; sự bài tiết hormone tăng trưởng đóng vai trò quan trọng trong suốt thời thơ ấu và cuối cùng, sự tăng trưởng bị thay đổi bởi các hormone giới tính ở tuổi dậy thì. Yếu tố tăng trưởng giống Insulin 1 trung hòa ảnh hưởng của hormone tăng trưởng đối với sự tăng trưởng, nhưng việc phóng thích yếu tố tăng trưởng giống Insulin 1 cũng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các chất dinh dưỡng. Insulin có tác dụng đồng hóa mạnh làm tăng mô mỡ và cơ, cũng như có liên quan tích cực đến sự phát triển ở thời thơ ấu. Tốc độ tăng chiều cao và cân nặng rất nhanh trong 2 tháng đầu tiên sau khi sinh, với tốc độ trung bình mỗi tháng tăng tương ứng khoảng 4cm và 0,9-1,1kg.

16 Height (cm) Fetal growth Infancy (1) Growth hormone Sex steroids Size attained in percent of total postnatal growth Lymphoid Brain and head 60 Childhood (2) General 20 Puberty (3) 20 0 Reproductive Age (years) Age (years) Hình. 1. Mô hình tăng trưởng ở tuổi nhũ nhi - ấu thơ - dậy thì của Karlberg [1] Hình. 3. Sự tăng trưởng tương đối của các hệ thống cơ quan khác nhau theo Tanner [13] Linear growth velocity (cm/year) Girl 11 Age (years) Boy Hình. 2. Đường biểu thị tốc độ tăng trưởng theo tuổi ở bé gái và bé trai. Đã được hiệu chỉnh bởi Tanner và cộng sự [11,12]. Sau đó, tốc độ tăng trưởng giảm cho đến khi có sự tăng trưởng bứt phá ở tuổi dậy thì; trong đó, quá trình dậy thì thường xảy ra ở bé gái sớm hơn bé trai (hình 2). Những cơ quan khác nhau có những tốc độ phát triển rất khác nhau (hình 3). Trọng lượng tương đối của mô lymphô ở trẻ em lớn hơn ở người lớn và kích thước của tuyến ức đạt cực đại khi trẻ từ 4-6 tháng tuổi và sau đó giảm dần [2]. Não bộ và chu vi vòng đầu phát triển chủ yếu trong 2 năm đầu đời, với chu vi vòng đầu vào lúc 2 tuổi đạt khoảng 80% giá trị của người lớn. Khối mỡ cơ thể, tính theo phần trăm trên tổng số khối cơ thể, tăng lên từ lúc sinh đến khoảng 6-9 tháng tuổi, sau đó giảm dần cho đến khoảng 5-6 tuổi, tiếp theo lại tăng lên (còn gọi là "béo phì tăng trở lại"). Những thay đổi này được phản ánh dựa trên các đường cong tham chiếu của BMI và nếp gấp da (hình 4). Béo phì tăng trở lại thường xảy ra ở trẻ 5-6 tuổi. Nếu quá trình này xảy ra sớm hơn, nguy cơ phát triển béo phì sẽ tăng lên [3]. 2 Michaelsen Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 1 5 DOI: /

17 Subscapular skinfold boys (mm) Percentiles BMI boys Percentiles 1 11 a Age (years) b Age (years) Hình. 4. Biểu đồ tham chiếu (bách phân vị) nếp gấp dưới xương bả vai (bé trai) và BMI. Đã được hiệu chỉnh bởi Tanner và Whitehouse [14], Nysom và cộng sự [15]. Điều chỉnh tăng trưởng Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng. Những ảnh hưởng của di truyền rất mạnh nhưng có thể được điều chỉnh bởi nhiều yếu tố môi trường. Yếu tố môi trường có thể gây ra sự khác biệt về chủng tộc nhiều hơn so với các yếu tố di truyền. Các tiêu chuẩn tăng trưởng mới của WHO ở trẻ 0-5 tuổi ở những vùng khác nhau trên thế giới cho thấy tiềm năng phát triển đều giống nhau. Về cơ bản, dưới điều kiện kinh tế xã hội và dinh dưỡng tối ưu, mô hình tăng trưởng là như nhau, độc lập với sự đa dạng về địa lý và dân tộc (xem Chương 4.1). Các nghiên cứu khác cho thấy rằng khi trẻ em của các gia đình di cư tới một quốc gia có điều kiện kinh tế xã hội và chế độ ăn uống khác đi thì mô hình tăng trưởng có thể thay đổi theo thời gian (xu hướng phổ biến); trong một thế hệ, các mô hình tăng trưởng trở nên gần giống với quốc gia mà họ đến. Chiều cao ở người trưởng thành đã tăng lên trong những thập kỷ qua ở nhiều cộng đồng. Những thay đổi phổ biến này đã tạm ngưng lại ở Bắc Âu khoảng giữa những năm 1980, trong khi đó nó vẫn tiếp tục tăng ở các nước khác [4]. Tuổi dậy thì khác nhau đáng kể giữa các nhóm dân cư, dậy thì khởi phát muộn hơn ở những dân cư có tình trạng dinh dưỡng kém. Dinh dưỡng có ảnh hưởng chủ yếu lên tăng trưởng, đặc biệt là trong những năm đầu đời. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ phát triển nhanh hơn trong những tháng đầu và chậm hơn lúc 12 tháng tuổi, trọng lượng của chúng thấp hơn và gầy hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa công thức [5]. Việc nuôi con bằng sữa mẹ cũng ảnh hưởng đến thành phần cơ thể. Trẻ nhũ nhi được nuôi bằng sữa mẹ được cung cấp nhiều chất béo hơn trong 6 tháng đầu và đạt được khối cơ nhiều hơn khi trẻ 6-12 tháng tuổi so với trẻ được nuôi bằng sữa công thức [6]. Mô hình tăng trưởng của trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có Sự tăng trưởng của trẻ em 3 Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 1 5 DOI: /

18 thể góp phần vào tác động của việc nuôi con bằng sữa mẹ đến sức khỏe lâu dài. Sự khác biệt về lượng protein (chất lượng và số lượng) giữa sữa mẹ và sữa công thức mà trẻ ăn vào có thể dẫn đến một số khác biệt trong mô hình tăng trưởng giữa trẻ được nuôi bằng sữa mẹ và trẻ được nuôi bằng sữa công thức. Điều này phù hợp với bằng chứng cho thấy sữa bò thúc đẩy tăng trưởng tuyến tính, ngay cả trong cộng đồng có dinh dưỡng tốt [7]. Một số bằng chứng cho thấy rằng ăn nhiều protein trong những năm đầu đời có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ phát triển thừa cân béo phì sau này [8, 9]. Các khía cạnh khác của dinh dưỡng cũng rất quan trọng trong sự phát triển thừa cân và béo phì, như đã thảo luận trong Chương 3.5. Các vấn đề dinh dưỡng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng Trên toàn thế giới, nguyên nhân thường gặp nhất của suy tăng trưởng là chất lượng bữa ăn không đảm bảo, và một số trường hợp do năng lượng nhập vào không đủ. Các chất dinh dưỡng liên quan tới sự tăng trưởng như kẽm, magiê, phospho và các axit amin thiết yếu là rất quan trọng. Nhìn chung, thiếu protein hiếm khi trở thành vấn đề nhưng nếu chất lượng protein thấp (thường trong các chế độ ăn dựa trên ngũ cốc hoặc củ), các axit amin thiết yếu như lysine có thể thấp trong chế độ ăn; điều này có thể có tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Suy dinh dưỡng, cụ thể là cân nặng theo tuổi thấp, có thể do chiều cao theo tuổi thấp (thể thấp còi), cân nặng theo chiều cao thấp (thể gầy mòn hay ốm) hoặc kết hợp. Trong những cộng đồng có dinh dưỡng kém, thấp còi được coi như là kết quả của suy dinh dưỡng mạn tính và gầy mòn là kết quả của suy dinh dưỡng cấp tính. Tuy nhiên, cả hai hình thức này có thể cùng tồn tại trong một cá thể; do đó thuật ngữ này thường được đơn giản hóa. Nhiều bệnh cấp tính và mạn tính gây ra chán ăn và ăn uống khó khăn, và do đó dẫn đến suy dinh dưỡng. Nhiễm trùng và các bệnh viêm như các bệnh tự miễn và ung thư, có liên quan với chứng biếng ăn. Các vấn đề về tâm lý có thể gây ra thất bại trong tăng trưởng và rối loạn ăn uống với biếng ăn có thể gây suy dinh dưỡng nặng. Béo phì được đặc trưng bởi sự gia tăng khối mỡ trong cơ thể, nhưng việc đo lường khối mỡ một cách thường xuyên quá phức tạp, do đó BMI [cân nặng (kg)/chiều cao (m)2] thường được sử dụng để mô tả thừa cân và béo phì. Trẻ em bị thừa cân thường cao hơn so với trẻ em có cân nặng bình thường cho đến tuổi dậy thì; trong đó, trẻ thừa cân thường dậy thì sớm hơn so với trẻ em cân nặng bình thường. Như vậy, sự khác biệt về chiều cao sau tuổi dậy thì có xu hướng giảm xuống. Sự tăng trưởng và sức khỏe lâu dài Các bằng chứng mạnh cho thấy rằng những sai lệch từ mô hình tăng trưởng trung bình, đặc biệt trong giai đoạn đầu đời, có liên quan đến chậm phát triển tâm thần và tăng nguy cơ của nhiều bệnh không lây nhiễm sau này. Ví dụ như trẻ có cân nặng lúc sinh thấp sẽ tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, và trẻ có tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian đầu đời sẽ tăng nguy cơ mắc đái tháo đường typ 2 và bệnh béo phì. Chiều cao của một người trưởng thành cũng có liên quan với một số bệnh, người thấp có liên quan với bệnh tim mạch và người cao có liên quan với một số loại ung thư. Dinh dưỡng giai đoạn sớm có ảnh hưởng đến cả sự phát triển sớm và sức khỏe lâu dài, như được mô tả trong Chương 1.5. Tuy nhiên, cơ chế của chúng hiện không rõ ràng và có ít thông tin để đánh giá liệu rằng tự thân những sai lệch trong sự phát triển hay những yếu tố gây ra sự sai lệch trong tăng trưởng là nguyên nhân thực sự của sự tăng nguy cơ bệnh sau này. Theo dõi tăng trưởng Thường xuyên đo cân nặng, chiều cao và vẽ biểu đồ đường cong cân nặng trong giai đoạn nhũ nhi và trẻ em là những công cụ quan 4 Michaelsen Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 1 5 DOI: /

19 trọng để theo dõi sức khỏe trẻ em cả tại hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như trong bệnh viện. Đường cong cân nặng theo tuổi là không đủ, vì nó không có khả năng xác định liệu đứa trẻ có cân nặng theo tuổi thấp là do thấp bé hay do gầy. Đánh giá chiều cao theo tuổi và cân nặng theo chiều cao hay đường cong BMI và đánh giá tốc độ tăng trưởng gần đây là quan trọng để ước lượng toàn diện dinh dưỡng/tăng trưởng. Định nghĩa của các giá trị bất thường thường được cung cấp dựa trên cơ sở độ lệch chuẩn (SD); trong đó, thể thấp còi và thể gầy mòn được định nghĩa là các giá trị dưới -2 SD và gầy mòn nặng và thấp còi nặng khi các giá trị dưới -3 SD. Đối với định nghĩa thừa cân và béo phì, các giá trị của Tổ chức Béo phì Quốc tế (International Obesity Task Force) thường được sử dụng [10]. Dựa trên dữ liệu từ một số quốc gia, các giá trị BMI theo tuổi được xác định dựa trên các bách phân vị ở độ tuổi 18, giá trị BMI ở nam trên 25 là thừa cân và 30 là béo phì. Với sự phát triển của phần mềm có sẵn trên Internet (ví dụ như việc nhập dữ liệu cân nặng và chiều dài tính toán bách phân vị, điểm SD và vẽ các đường cong trên đồ thị trở nên dễ dàng hơn. Đây là một công cụ có giá trị để giám sát, theo dõi các xu hướng suy dinh dưỡng, thừa cân và béo phì trong dân số chung. Nó cũng là một công cụ y tế công cộng quan trọng để giám sát tình trạng dinh dưỡng trong cộng đồng. Đây là công cụ thích hợp để thực hiện giám sát trên các cấp địa phương, khu vực và quốc gia. Kết luận Việc đo thường xuyên cân nặng và chiều dài / chiều cao cũng như vẽ biểu đồ tăng trưởng, bao gồm cân nặng theo chiều cao hay BMI, là công cụ quan trọng trong việc theo dõi sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của cả trẻ bệnh và trẻ khỏe mạnh Việc theo dõi thường xuyên sự tăng trưởng của trẻ khỏe mạnh nên được thực hiện thông qua hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, bao gồm cả các dịch vụ y tế học đường Tham khảo 1 Karlberg J: A biologically-oriented mathematical model (ICP) for human growth. Acta Paediatr Scand Suppl 1989; 350: Yekeler E, Tambag A, Tunaci A, Genchellac H, Dursun M, Gokcay G, Acunas G: Analysis of the thymus in 151 healthy infants from 0 to 2 years of age. J Ultrasound Med 2004;23: Rolland Cachera MF, Deheeger M, Maillot M, Bellisle F: Early adiposity rebound: causes and consequences for obesity in children and adults. Int J Obes (Lond) 2006;30(suppl 4):S11 S17. 4 Larnkjær A, Schrøder SA, Schmidt IM, Jørgensen MH, Michaelsen KF: Secular change in adult stature has come to a halt in northern Europe and Italy. Acta Paediatr 2006;95: Dewey KG, Peerson JM, Brown KH, Krebs NF, Michaelsen KF, Persson LA, Salmenpera L, Whitehead RG, Yeung DL: Growth of breast-fed infants deviates from current reference data: a pooled analysis of US, Canadian, and European data sets. World Health Orga- nization Working Group on Infant Growth. Pediatrics 1995;96: Gale C, Logan KM, Santhakumaran S, Parkinson JR, Hyde MJ, Modi N: Effect of breastfeeding compared with formula feeding on infant body composition: a systematic review and meta-analysis. Am J Clin Nutr 2012;95: Hoppe C, Mølgaard C, Michaelsen KF: Cow s milk and linear growth in industrialized and developing countries. Annu Rev Nutr 2006;26: Koletzko B, von Kries R, Closa R, Escribano J, Scaglioni S, Giovannini M, Beyer J, Demmelmair H, Gruszfeld D, Dobrzanska A, Sengier A, Langhendries JP, Rolland Cachera MF, Grote V; European Childhood Obesity Trial Study Group: Lower protein in infant formula is associated with lower weight up to age 2 y: a randomized clinical trial. Am J Clin Nutr 2009;89: Michaelsen KF, Greer F: Protein needs early in life and long-term health. Am J Clin Nutr 2014, Epub ahead of print. 10 Cole TJ, Bellizzi MC, Flegal KM, Dietz WH: Establishing a standard definition for child overweight and obesity worldwide: international survey. BMJ 2000; 320: Tanner JM, Whitehouse RH, Takaishi M: Standards from birth to maturity for height, weight, height velocity, and weight velocity: British children, I. Arch Dis Child 1966;41: Tanner JM, Whitehouse RH, Takaishi M: Standards from birth to maturity for height, weight, height velocity, and weight velocity: British children, II. Arch Dis Child 1966;41: Tanner JM: Growth at Adolescence. Oxford, Blackwell, Tanner JM, Whitehouse RH: Revised standards for triceps and subscapular skinfolds in British children. Arch Dis Child 1975;50: Nysom K, Mølgaard C, Hutchings B, Michaelsen KF: Body mass index of 0 to 45-y-old Danes: reference values and comparison with published European reference values. Int J Obes Relat Metab Disord 2001;25: Sự tăng trưởng của trẻ em 5 Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 1 5 DOI: /

20 1 Những vấn đề chuyên biệt về dinh dưỡng trẻ em Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 6 13 DOI: / Đánh giá dinh dưỡng Đánh giá lâm sàng và nhân trắc học John W.L. Puntis Các từ khóa Đánh giá dinh dưỡng. Tiền sử ăn uống. Nhân trắc học. Tăng trưởng. Suy dinh dưỡng. Các thông điệp chính Đánh giá dinh dưỡng bao gồm tiền sử ăn uống, khám lâm sàng và nhân trắc học; nếu có thể, nên kiểm tra các chỉ số huyết học và sinh hóa cơ bản để xác định sự thiếu dinh dưỡng Đo lường kỹ lưỡng tình trạng tăng trưởng và tham khảo biểu đồ tăng trưởng chuẩn là cần thiết để xác định trẻ bị suy dinh dưỡng Việc đo chiều dày nếp gấp da và chu vi cánh tay cho phép ước lượng thành phần cơ thể. Tuy nhiên, những phương pháp này thường không được áp dụng thường quy trên lâm sàng Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về suy dinh dưỡng nhưng chưa có định nghĩa nào đạt được sự đồng thuận tuyệt đối Suy dinh dưỡng cấp ảnh hưởng đến trọng lượng vì thế đứa trẻ trở nên gầy ( gầy mòn ; cân nặng theo chiều cao và chỉ số BMI thấp hơn giá trị bình thường) Suy dinh dưỡng mạn dẫn đến sự tăng trưởng chiều cao thấp vì thế đứa trẻ sẽ có chiều cao theo tuổi thấp ( thấp còi ). Quan điểm cho rằng tình trạng dinh dưỡng xấu đi đòi hỏi những can thiệp xâm lấn (nuôi ăn qua ống) để phòng ngừa những kết quả bất lợi là không rõ ràng vì còn phù thuộc vào bệnh nền và tình trạng lâm sàng tổng thể của cá nhân đứa trẻ Cần đo lường nhiều lần để kiểm tra hiệu quả của can thiệp dinh dưỡng Đánh giá dinh dưỡng 2015 S. Karger AG, Basel Suy dinh dưỡng làm ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và theo thời gian, nó sẽ dẫn đến bệnh lý đa cơ quan. Tình trạng dinh dưỡng phản ánh sự cân bằng giữa cung cầu và những hậu quả của bất kỳ sự mất cân bằng nào. Do đó, đánh giá dinh dưỡng là nền tảng của việc chăm sóc dinh dưỡng ở trẻ em [1]. Việc đánh giá nhu cầu hỗ trợ dinh dưỡng cần phải được thực hiện dựa trên lý do của những khó khăn gặp phải khi nuôi ăn, cũng như tình trạng dinh dưỡng hiện tại. Quá trình này bao gồm khai thác tiền sử ăn uống, chi tiết, khám lâm sàng, nhân trắc học (cân nặng, chiều cao; chu vi vòng đầu ở trẻ nhỏ) sử dụng những tiêu chuẩn tham chiếu thích hợp, ví dụ như biểu

21 đồ tăng trưởng của WHO [2] (xem Chương 1.2.4) và những chỉ số xét nghiệm cơ bản (xem Chương 1.2.4) nếu có thể. Ngoài ra, đo bề dày nếp gấp da và chu vi vòng cánh tay cũng là những phương pháp đơn giản để ước tính thành phần cơ thể [3]. Chế độ dinh dưỡng Những câu hỏi liên quan đến bữa ăn, lượng thức ăn ăn vào và những khó khăn trong việc ăn uống nên được ghi nhận trong bệnh sử thường quy và cung cấp một cái nhìn định tính nhanh chóng về chế độ dinh dưỡng (xem Chương 1.2.2). Để đánh giá một cách định lượng, ta cần phải khai thác tiền sử ăn uống cụ thể, trong đó bao gồm ghi nhận nhật ký ăn uống hoặc (ít gặp hơn) lượng thực phẩm ăn vào. Điều này thường sẽ được thực hiện cùng với một chuyên gia dinh dưỡng nhi khoa. Việc sử dụng bảng thành phần thức ăn hoặc một chương trình phần mềm máy tính sẽ cho phép phân tích các dữ liệu này. Vì thế, việc đánh giá sự tiêu thụ năng lượng và những chất dinh dưỡng cụ thể sẽ được thực hiện chính xác hơn. Khi cần xem xét việc cung cấp dinh dưỡng như vậy liệu có đủ hay không, những chỉ số tham chiếu về chế độ ăn sẽ cung cấp những khoảng giá trị về nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng ở những nhóm cá nhân [4]. Nhiều quốc gia có các giá trị riêng của họ và giá trị quốc tế đã được công bố bởi Tổ chức Nông Lương/ WHO/ Đại học Liên hợp quốc. Những giá trị tham chiếu về chế độ ăn này dựa trên giả định rằng nhu cầu dinh dưỡng của cá nhân trong một nhóm dân số có phân bố bình thường và 95% dân số sẽ có nhu cầu trong 2 độ lệch chuẩn (SD) của số trung bình (xem Chương 1.3.1). Ở một cá nhân, chế độ ăn trên mức nhu cầu tham chiếu gần như chắc chắn đầy đủ, trừ khi một bệnh nào đó gây ra nhu cầu rất cao về một chất dinh dưỡng cụ thể. Trong khi đó, chế độ ăn dưới mức giá trị tham chiếu gần như chắc chắn không đủ. Khai thác tiền sử ăn uống Khai thác bệnh sử cẩn thận là một yếu tố quan trọng trong đánh giá dinh dưỡng. Danh sách dưới đây bao gồm những câu hỏi cần thiết cho một tiền sử ăn uống chính xác: Trẻ nhũ nhi: em bé được nuôi ăn bằng sữa mẹ hay sữa công thức? Đối với trẻ nhũ nhi được nuôi ăn bằng sữa mẹ: Em bé được cho ăn bao lâu một lần và ở mỗi bên vú là bao lâu? Kiểm tra tư thế và kỹ thuật Có sử dụng sữa bình hay thức ăn khác bổ sung hay không? Đối với trẻ bú sữa công thức: Loại sữa công thức nào? Bữa ăn được chuẩn bị như thế nào? Ví dụ như thiết lập năng lượng cuối cùng/100ml Mỗi cữ bú có được chuẩn bị mới không? Có bao nhiêu cữ bú trong vòng 24 giờ? Các cữ bú cách nhau bao lâu: mỗi 2, 3 hay 4 giờ? Thể tích sữa mỗi lần cho bú là bao nhiêu? Trẻ bú được bao nhiêu mỗi lần? Thời gian một lần cho bú là bao lâu? Có chất gì khác được cho thêm vào bình sữa của trẻ hay không? Đối với trẻ lớn hơn: Mỗi ngày trẻ ăn bao nhiêu bữa ăn chính và phụ? Con bạn dùng gì trong mỗi bữa ăn chính và phụ (bao gồm bữa ăn mẫu trong 1 hoặc 2 ngày)? Các bậc phụ huynh mô tả khẩu vị của con mình như thế nào? Đứa trẻ dùng bữa ở đâu? Có bữa ăn gia đình hay không? Những bữa ăn này có vui vẻ và thú vị hay không? Trẻ uống bao nhiêu sữa? Trẻ uống bao nhiêu nước trái cây? Trẻ có ăn các thức ăn vặt thường xuyên hay không? (Các thông tin chi tiết được trình bày ở Chương ) 1 Đánh giá lâm sàng và nhân trắc học 7 Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 6 13 DOI: /

22 Hình. 2. Một trẻ nhũ nhi được đo trên bàn đo, cần 2 người để đánh giá chính xác chiều dài trẻ. Hình. 1. Cân trẻ lớn khi mặc quần áo mỏng nhẹ sử dụng cân được bảo hành và hiệu chỉnh thường xuyên. Nhân trắc học cơ bản: Đánh giá hình dáng cơ thể Đo lường chính xác và vẽ biểu đồ cân nặng và chiều cao (chiều dài ở trẻ < 85 cm hoặc trẻ không thể đứng) là rất cần thiết nếu phát hiện tình trạng suy dinh dưỡng; khám lâm sàng mà không đo lường nhân trắc học (chỉ ước lượng bằng mắt ) được xem là rất không chính xác [5]. Đối với trẻ sinh thiếu tháng dưới 2 tuổi, ta cần phải trừ đi số tuần sinh sớm từ tuổi thật ( tuổi theo thời gian ) để lấy tuổi hiệu chỉnh vẽ lên biểu đồ tăng trưởng. Chu vi vòng đầu đầu nên được đo thường xuyên và vẽ ở trẻ em dưới 2 tuổi. Các phép đo nên được thực hiện như sau: Cân nặng: Cân trẻ nhỏ dưới 2 tuổi không mặc quần áo Cân trẻ lớn hơn chỉ mặc quần áo mỏng (hình 1) Sử dụng thang điểm tự hiệu chỉnh hoặc thang điểm điều chỉnh đều đặn Chiều dài: Nếu có thể, sử dụng bàn đo trẻ nhũ nhi, thảm đo (dễ dàng cuộn và di chuyển) hoặc dây đo ( -guidelines/height-measuring-achild/#rationale) Cần có hai người để sử dụng bàn đo: một người giữ đầu trẻ tựa vào đầu bàn đo trong khi người còn lại duỗi thẳng hai đầu gối trẻ và giữ bàn chân trẻ thẳng áp lên bậc lót chạy (hình 2) Chiều cao: Sử dụng một thước đứng nếu có thể (hình 3), một thiết bị đo chiều cao đứng bao gồm một thang đo đứng và một bảng trượt đứng hoặc cánh tay để điều chỉnh đến phần đỉnh đầu Cởi giày của trẻ Yêu cầu trẻ nhìn thẳng về phía trước Đảm bảo gót chân, mông và vai trẻ tiếp xúc với tường 8 Puntis Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 6 13 DOI: /

23 1 Hình. 3. Thước đo đứng được dùng để đo chính xác chiều cao 4 5 Hình. 4. Điểm giữa cánh tay là điểm nằm giữa cánh tay từ mỏm cùng xương vai đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay (đánh dấu bằng bút bi). Hình. 5. Để đo chu vi vòng cánh tay, đo 3 lần bằng thước dây không co giãn tại điểm giữa cánh tay và lấy giá trị trung bình. Vòng đầu: Sử dụng thước đo không co giãn Tìm khoảng lớn nhất giữa trán và chẩm Đo chu vi vòng cánh tay: Đánh dấu điểm giữa cánh tay (điểm giữa khoảng từ mỏm cùng vai và mỏm trên lồi cầu xương cánh tay; hình 4) sau đó dùng một thước đo không co giãn và lấy trung bình của 3 lần đo tại trung điểm cánh tay (hình 5) Đo bề dày nếp gấp da: Kẹp da bằng hai ngón tay và kẹp dụng cụ đo nếp gấp da chuyên dụng (hình 6); việc này cần kinh nghiệm để đo được chính xác và lặp đi lặp lại Đánh giá lâm sàng và nhân trắc học 9 Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 6 13 DOI: /

24 bình và độ lệch chuẩn của số trung bình. Các đường bách phân vị diễn tả dữ liệu theo phần trăm: bách phân vị thứ 50 đại diện cho số trung bình (trung bình); 25% trẻ em ở dưới bách phân vị thứ 25. Khoảng bình thường (xấp xỉ ± 2 độ lệch chuẩn từ số trung bình) nằm giữa bách phân vị thứ 3 và thứ 97. Tăng trưởng bình thường: Quy luật đơn giản ngón tay cái Hình. 6. Bề dày nếp gấp da cơ tam đầu đo bằng dụng cụ Harpenden ở giữa cánh tay cho phép ước lượng sự dự trữ năng lượng dưới dạng mỡ và hữu ích cho việc tầm soát thường xuyên. ment/skin_fold_calipers.htm); đo bề dày nếp gấp da cơ tam đầu cánh tay ở giữa cánh tay không thuận thả lỏng, và đọc kết quả chính xác đến 0,5 mm, 3 giây sau khi kẹp dụng cụ đo; ta cũng có thể đo ở nhiều vị trí khác nhau ( pdf) Sự tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn nhũ nhi là sự tiếp nối của đường tăng trưởng trong tử cung và nó sẽ giảm tốc nhanh chóng khi đến năm 3 tuổi. Sự tăng trưởng ở trẻ em sẽ là một đường cong ổn định và giảm tốc từ từ cho đến khi dậy thì - một giai đoạn tăng trưởng kéo dài từ tuổi thanh thiếu niên. Ở tuổi dậy thì, sự khác biệt giới tính chủ yếu là ở chiều cao, với sự khác biệt chiều cao giữa nam và nữ khoảng 12,5cm. Những biểu đồ tăng trưởng có nguồn gốc từ các phép đo của nhiều trẻ ở các độ tuổi khác nhau nhau (dữ liệu nghiên cứu cắt ngang). Những dữ liệu về sự tăng trưởng ở trẻ em có phân bố bình thường (ví dụ như chúng phân bố theo kiểu hình chuông). Những dữ liệu này biểu diễn dưới dạng số trung Sự tăng cân nặng trung bình dự kiến ở trẻ sơ sinh khỏe mạnh: 200 g mỗi tuần trong 3 tháng đầu 130 g mỗi tuần trong 3 tháng thứ hai 85 g mỗi tuần trong 3 tháng thứ ba 75 g mỗi tuần trong 3 tháng thứ tư Trọng lượng trẻ lúc sinh thường tăng gấp đôi sau 4 tháng và tăng gấp ba sau 12 tháng Chiều dài: Tăng 25cm trong năm đầu Tăng 12cm trong năm thứ hai Sau 2 năm, trẻ đạt được một nửa chiều cao lúc trưởng thành Vòng đầu: Tăng 1cm mỗi tháng trong năm đầu tiên Tăng 2cm trong toàn bộ năm thứ hai Bằng 80% kích thước ở người lớn sau 2 năm (Lưu ý: tốc độ tăng trưởng thường khác nhau đáng kể giữa các bé; những dữ liệu này nên được sử dụng kết hợp với biểu đồ tăng trưởng.) Các mô hình tăng trưởng Cân nặng lúc sinh/ bách phân vị không phải luôn phản ánh tiềm năng di truyền; một số trẻ có cân nặng bắt chéo qua đường bách phân vị trong những tháng đầu đời ( sụt giảm ) nhưng sau đó lại tiếp tục với những chỉ số bách phân vị thấp hơn. Cân nặng cao nhất vào giữa tuần thứ 4 và 8 là chỉ báo tốt nhất cho cân nặng lúc 12 tháng. Những trẻ sinh ra có cân nặng dưới bách phân vị 10 Puntis Koletzko B, et al. (eds): Pediatric Nutrition in Practice. World Rev Nutr Diet. Basel, Karger, 2015, vol 113, pp 6 13 DOI: /